Từ nhà cung cấp nhỏ đến mắt xích có giá trị
Việt Nam đang hiện diện ngày càng sâu trong các chuỗi sản xuất điện tử, cơ khí, ô tô, dệt may và da giày. Song mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa vẫn còn khác nhau giữa các ngành, trong khi nhiều doanh nghiệp mới dừng ở những công đoạn có giá trị gia tăng chưa cao.
Theo số liệu Bộ Công Thương dẫn tại Hội thảo “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” ngày 30/9/2026, tỷ lệ cung ứng nội địa năm 2024 ước đạt 36,6%. Tỷ lệ nội địa hóa cơ khí chế tạo khoảng 25-30%; điện tử gia dụng 30-45%, điện tử tin học, viễn thông khoảng 15% và ô tô con khoảng 15-20%.
Những con số này cho thấy dư địa phát triển vẫn còn lớn. Nhưng bài toán quan trọng hơn là phần giá trị doanh nghiệp Việt tạo ra trong mỗi sản phẩm.

Theo ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp ngành Công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (HANSIBA), Chủ tịch HĐQT Tập đoàn N&G Việt Nam, khi Việt Nam hướng tới tăng trưởng cao, CNHT phải chuyển từ mục tiêu tăng số lượng doanh nghiệp sang nâng chất lượng năng lực sản xuất. Doanh nghiệp cần từng bước làm chủ vật liệu, linh kiện, công nghệ nền và dịch vụ kỹ thuật, qua đó tăng phần giá trị được tạo ra và giữ lại trong nước.
Đây cũng là lý do việc trở thành nhà cung cấp cho tập đoàn lớn không thể chỉ tính bằng một đơn hàng. Doanh nghiệp phải đáp ứng hàng loạt yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, bảo mật, môi trường, giao hàng và khả năng duy trì sản lượng ổn định.
GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội, cho rằng đầu tư máy móc hiện đại mới chỉ là bước đầu. Điều quyết định là doanh nghiệp có vận hành thiết bị hiệu quả, duy trì chất lượng ổn định và tổ chức được quy trình sản xuất hay không.
Muốn nâng cấp phải có đơn hàng và năng lực công nghệ
Một trong những trở ngại lớn của doanh nghiệp CNHT là nghịch lý: muốn có đơn hàng phải đầu tư trước, nhưng muốn đầu tư lớn lại cần nhìn thấy thị trường đủ chắc chắn.
Để trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2, doanh nghiệp phải bỏ chi phí cho khuôn mẫu, máy móc, thử nghiệm, chứng nhận và đào tạo nhân lực trong thời gian dài trước khi doanh thu hình thành. Với doanh nghiệp quy mô nhỏ, đây là rào cản đáng kể.
PGS.TS. Phan Đăng Tuất, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI), cho rằng cần hình thành các chuỗi sản xuất trong nước, trong đó doanh nghiệp đầu chuỗi đóng vai trò tạo thị trường cho doanh nghiệp CNHT.
Các tập đoàn lớn như VinFast, Thép Hòa Phát, Viettel, Thaco... nếu tăng cường đặt hàng trong nước sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp vệ tinh có cơ sở đầu tư dây chuyền, công nghệ và nhân lực. Quan trọng hơn, quá trình này có thể kéo doanh nghiệp Việt lên những công đoạn có yêu cầu kỹ thuật cao hơn.
Đại diện Viettel cũng cho rằng lợi thế về lao động giá rẻ không thể duy trì mãi. Khi chi phí lao động tăng, mô hình dựa nhiều vào gia công, lắp ráp sẽ bộc lộ giới hạn. Vì vậy, doanh nghiệp Việt cần tiến dần từ sản xuất theo bản vẽ sang tham gia thiết kế, thử nghiệm và phát triển sản phẩm.
Đây cũng là điểm quyết định khả năng gia tăng giá trị giữ lại trong nền kinh tế. Nếu doanh nghiệp chỉ đảm nhận một công đoạn gia công, phần giá trị thu được sẽ hạn chế. Ngược lại, khi có thể tham gia từ thiết kế, vật liệu, linh kiện đến thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm, giá trị tạo ra sẽ được mở rộng.
Để quá trình này diễn ra, chính sách hỗ trợ cũng cần thay đổi theo hướng sát hơn với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Ngoài vốn đầu tư máy móc, doanh nghiệp cần tiếp cận phòng thử nghiệm, đo kiểm, tiêu chuẩn, đào tạo kỹ thuật và nguồn vốn lưu động khi đã có đơn hàng.
Theo ông Nguyễn Hoàng, hướng đi phù hợp là hình thành các hệ sinh thái sản xuất, kết nối doanh nghiệp đầu chuỗi với doanh nghiệp vệ tinh, trung tâm R&D, thử nghiệm, đào tạo và logistics. Nhà nước có thể tập trung vào hạ tầng dùng chung, tiêu chuẩn, pháp lý và xúc tiến chuỗi, trong khi doanh nghiệp đảm nhận phần đầu tư và cạnh tranh.
Khi đó, mục tiêu của CNHT không còn đơn thuần là “sản xuất được bao nhiêu” mà là doanh nghiệp Việt làm chủ được bao nhiêu công đoạn và giữ lại được bao nhiêu giá trị. Đây mới là thước đo quan trọng để xác định mức độ trưởng thành của công nghiệp hỗ trợ và khả năng nâng vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Minh Thành (t/h)






















