THCL Biện pháp áp trần giá sữa cho trẻ dưới 6 tuổi mặc dù đã giúp ổn định thị trường, song theo Bộ Tài chính, kết quả bình ổn giá sữa vẫn còn chưa chắc chắn và tiềm ẩn nhiều dấu hiệu biến động bất thường. Đặc biệt, thị trường sữa đang có biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh như thay đổi trọng lượng, chất lượng, mẫu mã và có hiện tượng thao túng, chuyển giá.

Sau một năm thực hiện áp trần giá sữa, các cơ quan quản lý đã công bố giá tối đa và giá đăng ký của 686 dòng sản phẩm sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi của các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm sữa lưu thông trên thị trường. Nhờ vậy, lần đầu tiên mặt bằng giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi cơ bản giá ổn định liên tục trong 12 tháng. Trong khi trước đó, một năm phát sinh tới 3 – 4 lần doanh nghiệp kê khai điều chỉnh giá.

Trên cơ sở mặt bằng giá do Nhà nước công bố, giá bán lẻ sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi của tất cả các hãng sữa đều giảm từ 0,1% đến 34% so với thời điểm trước khi áp dụng biện pháp bình ổn giá. Đồng thời, các biến động về giá chủ yếu do có sự thay đổi về trọng lượng, chủng loại, chất lượng, mẫu mã chưa có giá tối đa, không xảy ra đối với các trường hợp đã có giá tối đa.

Tuy nhiên, vẫn còn doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu sữa có những biểu hiện cạnh tranh không bình đẳng trên thị trường, thay đổi trọng lượng, chất lượng, mẫu mã sản phẩm để xác định giá tối đa mới. Cùng với đó, giá nguyên liệu thế giới thời gian qua có giảm nhưng giá sữa thành phẩm tiêu thụ trong nước không giảm...

Bộ Tài chính dẫn chứng, theo dự báo của Tổ chức nông lương thế giới của Liên Hợp quốc tại Báo cáo khái quát về nông nghiệp 2014 – 2023, giá một số loại sữa nguyên liệu như sữa bột gầy, sữa bột nguyên kem, bột whey có xu hướng giảm trong năm 2015 bình quân khoảng 5,8%. Song, giá bán lẻ sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi tại thị trường một số nước thường thấp hơn sản phẩm tương tự tại thị trường Việt Nam.

Ví dụ, theo tài liệu do Vụ Kinh tế tổng hợp – Bộ Ngoại giao cung cấp, giá bán trung bình trên kilogram của các sản phẩm sữa công thức cho trẻ em dưới 6 tuổi bước 1 – bước 4 của tất cả các nhãn hàng của Việt Nam đang cao hơn một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Cụ thể, giá bán trung bình sản phẩm sữa bước 1 – bước 4 của Việt Nam là 16 USD/kg sản phẩm, nhưng giá tương tự của Thái Lan chỉ là 14 USD/kg sản phẩm; của Philippines là 12 USD/kg sản phẩm; của Malaysia là 10 USD/kg sản phẩm và của Indonesia là 9,5 USD/kg sản phẩm. Nguồn này do AC Nielsen cung cấp trên cơ sở dữ liệu của tháng 2/2015, riêng Philippines là tháng 6/2014.

Đáng chú ý, theo Bộ Tài chính hiện đang có tình trạng là nguồn nguyên liệu để sản xuất sữa trong nước và sản phẩm sữa thành phẩm phần lớn được nhập khẩu do đối tác nước ngoài trực tiếp chỉ định và có biểu hiện thao túng, chuyển giá từ nước ngoài trước khi nhập khẩu vào Việt Nam.

Chính điều này đã khiến cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát, xác định yếu tố đầu vào của sản xuất, phân phối sản phẩm sữa.

Do đó theo Bộ Tài chính, mục tiêu bình ổn giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi đã đạt được trong thời gian qua phải tiếp tục được củng cố để bảo đảm sự bền vững. Trên cơ sở đề xuất của Bộ Tài chính, tại Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 4/2015 vừa qua, Chính phủ đã quyết định kéo dài thời gian áp trần giá sữa đến hết năm 2016.

Theo Thời báo Tài chính Việt Nam