Trong cuộc chiến cam go giành thị phần giữa các DN trong nước và nước ngoài, chính tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng đã khiến DN nội “lép vế” ngay tại sân nhà. Trước thực trạng này, nhiều DN nội đã chọn cho mình hướng đi mới…

Nhiều sản phẩm gắn “mác ngoại” nhưng thực tế lại là do DN Việt Nam sản xuất

“Hồn” nội, “mác” ngoại!

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều sản phẩm mang thương hiệu của các công ty, DN Việt Nam được người tiêu dùng trong nước lựa chọn như kem đánh răng, bàn chải đánh răng Dr Kool, sữa tắm, nước rửa tay Dr Kool, Dr Clean, khăn ướt…

Tuy nhiên, mấy ai biết rằng đây chính là những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam chính gốc. Đây là sản phẩm thuộc quyền sở hữu của Công ty CP Thương mại sản xuất và dịch vụ  Sao Nam, nhưng lại được sản xuất tại một nhà máy tại Malaysia, Singapore hay Hàn Quốc… Sản phẩm hoàn thiện, các sản phẩm này không có dấu tích gì là hàng Việt, chữ ghi trên bao bì hoàn toàn là tiếng Hàn Quốc hoặc tiếng Anh. Sau khi gia công tại nước ngoài, các DN lại “hợp thức hóa” bằng cách nhập khẩu sản phẩm về Việt Nam dán thêm nhãn phụ và tại đây vai trò của họ chỉ là đại lý phân phối độc quyền.

Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Công Sinh, Giám đốc Công ty CP Thương mại sản xuất và dịch vụ  Sao Nam (Hoàng Mai, Hà Nội) cho biết: “Bất đắc dĩ chúng tôi mới phải làm như vậy. Trước đây, công ty đã từng kinh doanh, bán những sản phẩm được sản xuất trong nước, tuy nhiên người tiêu dùng không chấp nhận mà chọn những sản phẩm của nước ngoài. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều công ty như chúng tôi, họ cũng gửi mẫu mã, thiết kế, thương hiệu của mình để thuê các nhà máy ở các nước gia công theo đơn đặt hàng, sau đó nhập về theo dạng nhà phân phối độc quyền. Với cách làm như trên thì kết quả thu được rất khả quan, doanh số tăng trưởng cao, đều đặn qua các năm. Bởi bản thân các mặt hàng nhập khẩu có sức hút rất mạnh đối với người tiêu dùng trong nước…”.

Cũng theo ông Sinh, ngoài các sản phẩm của công ty, cũng có khá nhiều mặt hàng như sữa tắm, khăn ướt, sản phẩm chăm sóc da Queenie có hình thức, mẫu mã giống hệt hàng nhập ngoại, nhưng đều có giấy tờ hợp pháp chứng minh chúng thuộc quyền sở hữu của DN Việt Nam.

Doanh nghiệp “mất nhiều hơn được”?

Ông Phạm Công Sinh cho biết: “Dù kết quả thu được là rất khả quan, doanh số tăng trưởng cao, đều đặn qua các năm; tuy nhiên, khi đặt hàng thuê các nhà máy ở nước ngoài sản xuất thì chi phí rất cao. Giá thuê nhân công ở nước ngoài cao hơn ở Việt Nam, ngoài ra còn phải chịu thêm thuế nhập khẩu và các chi phí vận chuyển từ nước ngoài về Việt Nam. Nếu một ngày người tiêu dùng trong nước tin dùng các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam thì chúng tôi không có lý do gì mà phải sản xuất tại nước ngoài. Còn nếu họ vẫn có tâm lý “sính ngoại” thì để đáp ứng như cầu, bắt buộc công ty phải áp dụng hình thức này”.

Ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội trải lòng: “Đây là sự thật đau lòng. Bởi chúng ta phải đầu tư ra nước ngoài để sản xuất hàng hóa, trong khi đó chính chúng ta có thể tự làm ra để bán cho người dân. Chỉ vì tâm lý “sính ngoại” đã dẫn tới việc DN trong nước thua thiệt trong nhiều mặt. Nếu các DN sản xuất tại Việt Nam thì sẽ sử dụng chính nguồn nhân lực của chúng ta, điều này sẽ tạo thu nhập của người dân tăng lên, có thể sử dụng các nguyên liệu tại chỗ, giảm bớt chi phí về thuế, vận chuyển… để có thể cạnh tranh. Ngược lại, nếu sản xuất tại nước ngoài thì đương nhiên là DN sẽ đánh mất các quyền lợi trên”.

Chính tâm lý “sính ngoại” của nhiều người tiêu dùng, đã và đang buộc các DN này phải đưa sản phẩm ra nước ngoài sản xuất. Hy vọng rằng, trong thời gian tới, người tiêu dùng sẽ có cái nhìn khác về hàng Việt Nam. Bên cạnh đó, các DN trong nước sẽ không phải đi xa như vậy để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng, không phải đội lốt các nhà phân phối độc quyền… mà ngược lại họ sẽ tự hào về những sản phẩm do chính tay mình làm ra với đồng vốn, chất xám và công sức của mình.

Tuấn Ngọc – Nguyễn Hạnh