Từ tinh gọn hệ thống đến đổi mới quy trình làm luật
Theo Nghị quyết, chính sách đầu tiên tập trung vào tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hướng tới xây dựng một hệ thống đồng bộ, minh bạch, hạn chế chồng chéo và những quy định gây khó khăn trong quá trình áp dụng.
Cùng với đó, Chính phủ đặt yêu cầu xác định rõ hơn thẩm quyền về nội dung ban hành văn bản của từng chủ thể. Phạm vi giữa luật và các loại văn bản quy phạm pháp luật khác cũng cần được phân định cụ thể, đồng thời làm rõ những nội dung nào cần được quy định bằng văn bản quy phạm pháp luật.
Việc phân định này được kỳ vọng góp phần hạn chế tình trạng một vấn đề được quy định ở nhiều cấp độ, gây khó khăn cho việc tra cứu và thực hiện. Đối với người dân và doanh nghiệp, một hệ thống quy định rõ ràng, dễ tiếp cận cũng đồng nghĩa với việc giảm chi phí tuân thủ và hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện pháp luật.

Chính sách thứ ba tập trung vào đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản theo hướng linh hoạt, kịp thời và hiệu quả nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chặt chẽ. Một trọng tâm là đẩy nhanh việc thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng thành pháp luật.
Chính phủ yêu cầu tiếp tục nghiên cứu quy trình xây dựng luật theo hướng nâng cao thực chất chất lượng chính sách và dự thảo. Quy trình chính sách và quy trình soạn thảo phải bảo đảm tính liên thông, nhưng không làm phát sinh thêm tầng nấc, thủ tục hay hồ sơ trùng lặp.
Đáng chú ý, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ trì đối với chất lượng chính sách cũng được yêu cầu làm rõ hơn. Đây là bước nhằm gắn trách nhiệm cụ thể với từng khâu trong quá trình xây dựng pháp luật, thay vì để trách nhiệm bị phân tán qua nhiều cấp, nhiều đơn vị.
Gắn xây dựng với thi hành, đưa AI vào quá trình làm luật
Một điểm quan trọng trong 5 chính sách là chuyển từ tư duy chỉ chú trọng ban hành văn bản sang quản lý toàn bộ quá trình từ xây dựng đến tổ chức thi hành.
Chính sách thứ tư tập trung gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời hoàn thiện cơ chế giải thích Hiến pháp, luật, hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng cơ chế đánh giá văn bản sau khi ban hành.
Việc đánh giá sau ban hành có ý nghĩa trong việc nhận diện những quy định không còn phù hợp, phát sinh vướng mắc hoặc chưa đạt mục tiêu đề ra. Qua đó, pháp luật có thể được điều chỉnh dựa trên thực tiễn thay vì chỉ được xem xét tại thời điểm xây dựng.
Song song với cải cách quy trình, Chính phủ đặt trọng tâm vào con người và công nghệ. Chính sách thứ năm hướng tới nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật, tăng tính chuyên nghiệp trong soạn thảo và tổ chức thi hành.
Chính phủ cũng yêu cầu đẩy mạnh số hóa và ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo trong quy trình xây dựng chính sách, soạn thảo văn bản. Bộ Tư pháp được giao nghiên cứu xây dựng một hồ sơ lập pháp điện tử thống nhất, qua đó tạo nền tảng kết nối dữ liệu và giảm các công đoạn xử lý thủ công, trùng lặp.
Việc ứng dụng AI có thể hỗ trợ rà soát, đối chiếu quy định, nhận diện nguy cơ chồng chéo và phục vụ phân tích dữ liệu chính sách. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ; trách nhiệm về chất lượng chính sách và văn bản vẫn thuộc về cơ quan, người có thẩm quyền.
Cùng với việc thông qua 5 chính sách, Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp tục đánh giá kỹ tác động, bảo đảm tính khả thi, thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Bộ Tư pháp được yêu cầu khẩn trương xây dựng dự án Luật về văn bản quy phạm pháp luật, trình Chính phủ trong tháng 8/2026, bảo đảm tiến độ để Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu được phân công chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện dự án luật.
Với cách tiếp cận này, mục tiêu của quá trình sửa đổi không chỉ là tạo ra những quy định tốt hơn mà còn hướng tới một phương thức làm luật tinh gọn, chuyên nghiệp, số hóa và gắn chặt hơn với thực tiễn. Đây được xem là nền tảng để pháp luật theo kịp yêu cầu quản lý nhà nước và tốc độ phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Minh Thành (t/h)






















