Tăng trưởng không còn phụ thuộc vào một động lực duy nhất
Theo số liệu của Cục Thống kê, GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mức cao nhất kể từ khi Việt Nam thực hiện thống kê GDP theo quý và theo kỳ 6 tháng từ năm 2000. Trước đó, tốc độ tăng trưởng 6 tháng cao nhất từng ghi nhận là 7,87% vào năm 2007, 7,60% năm 2005 và 7,52% năm 2025.
Khác với những giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa vào một vài lĩnh vực, kết quả năm nay phản ánh sự cải thiện đồng thời của nhiều động lực kinh tế.
Trong đó, hoạt động ngoại thương tiếp tục đóng vai trò quan trọng. 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 470 tỷ USD, tăng hơn 27% so với cùng kỳ năm trước. Riêng quý II, kim ngạch xuất khẩu tăng 22,7% so với cùng kỳ và tăng 16,8% so với quý I.

Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là trụ cột của xuất khẩu khi chiếm khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Có 29 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm hơn 92% tổng giá trị xuất khẩu.
Đáng chú ý, 5 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất gồm máy vi tính và linh kiện, máy móc thiết bị, điện thoại và linh kiện, dệt may, giày dép đều đạt giá trị trên 10 tỷ USD, đóng góp khoảng 62,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Song song với xuất khẩu, thị trường nội địa cũng tiếp tục phục hồi mạnh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9%, cao hơn mức tăng bình quân của giai đoạn trước đại dịch Covid-19, cho thấy sức cầu trong nước đang trở thành điểm tựa quan trọng của nền kinh tế.
Lĩnh vực du lịch tiếp tục khởi sắc khi 12,3 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong 6 tháng đầu năm, tăng gần 15% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 15,6%, trong khi doanh thu du lịch lữ hành tăng 15%, góp phần mở rộng đóng góp của khu vực dịch vụ vào tăng trưởng chung.
Ở lĩnh vực đầu tư, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng khoảng 13%, phản ánh niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư vào triển vọng tăng trưởng. Riêng vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% và là mức giải ngân cao nhất của 6 tháng đầu năm trong vòng 4 năm trở lại đây.
Nhập siêu phản ánh chu kỳ mở rộng sản xuất
Một điểm đáng chú ý trong nửa đầu năm là cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu khoảng 16,65 tỷ USD, chấm dứt chuỗi nhiều năm xuất siêu liên tục.
Tuy nhiên, cơ cấu nhập khẩu cho thấy xu hướng này chủ yếu đến từ việc doanh nghiệp gia tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất. Khoảng 94% tổng kim ngạch nhập khẩu là máy móc, thiết bị, linh kiện, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
Điều này phản ánh các doanh nghiệp đang chuẩn bị nguồn nguyên liệu cho các đơn hàng trong nửa cuối năm, đặc biệt là khu vực FDI - khu vực hiện chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Trong mô hình sản xuất hiện nay, xuất khẩu tăng thường kéo theo nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu và linh kiện đầu vào tăng tương ứng. Vì vậy, nhập siêu trong ngắn hạn chưa hẳn phản ánh sự suy yếu của nền kinh tế mà cho thấy hoạt động sản xuất đang được mở rộng.
Tuy vậy, diễn biến này cũng đặt ra yêu cầu giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu thông qua phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Nâng tỷ lệ nội địa hóa mới là chìa khóa tăng trưởng dài hạn
Trong bối cảnh nền kinh tế có độ mở rất lớn, việc gia tăng giá trị tạo ra trong nước được xem là yếu tố quyết định chất lượng tăng trưởng.
Hiện nay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương khoảng 180% GDP, cao hơn nhiều so với Nhật Bản (47%), Trung Quốc (64%) hay Hàn Quốc (102%). Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu tương đương khoảng 94% GDP, cho thấy Việt Nam có mức độ phụ thuộc rất lớn vào thương mại quốc tế.
Lợi thế của Việt Nam là đang thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hầu hết các thị trường lớn trên thế giới. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả các FTA, doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng thay vì chỉ dừng ở gia công.
Theo Quyết định số 929/QĐ-TTg về Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành sản xuất chủ lực.
Cụ thể, ngành điện tử phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa 25-30%, cơ khí chế tạo khoảng 40%, ô tô từ 22-30%, dệt may đạt 60% và da giày từ 60-65%.
Nếu những mục tiêu này được hiện thực hóa, doanh nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ xuất khẩu trực tiếp mà còn tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất của các tập đoàn FDI thông qua việc cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và dịch vụ công nghiệp hỗ trợ.
Có thể thấy, mức tăng trưởng 8,18% của nửa đầu năm không chỉ phản ánh sự phục hồi của nền kinh tế mà còn cho thấy cấu trúc tăng trưởng đang thay đổi theo hướng cân bằng hơn. Khi sản xuất, tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu cùng phát huy hiệu quả, đồng thời giá trị gia tăng trong nước tiếp tục được nâng lên thông qua phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, nền kinh tế sẽ có nền tảng vững chắc hơn để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Nam Sơn (t/h)





















