Giá cao su trong nước: Thị trường ổn định.

Tại Công ty Cao su Mang Yang:

Giá thu mua mủ nước: Loại 1 ở mức 399 đồng/TSC/kg; mủ nước loại 2 ở mức 388 đồng/TSC/kg

Mủ đông tạp: Loại 1 ở mức 395 đồng/DRC/kg, mủ đông tạp loại 2 ở mức 346 đồng/DRC/kg.

Công ty Cao su Phú Riềng.

Giá mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg ; Giá mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC/kg.

Giá cao su ngày 14/9: Kết thúc tuần giao dịch giảm mạnh tại Singapore
Giá cao su ngày 14/9: Kết thúc tuần giao dịch giảm mạnh tại Singapore (Ảnh: internet)

Công ty Cao su Bà Rịa: Giá thu mua mủ nguyên liệu tại nhà máy Xà Bang hôm nay ổn định, cụ thể:

Giá mủ nước:

Mức 1 có giá 415 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên.

Mức 2 có giá 410 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30.

Mức 3 có giá 405 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 20 đến dưới 25.

Nếu chất lượng mủ không đạt tiêu chuẩn trên thì:

+ Độ TSC dưới 20 nguyên nhân bị mưa chụp, sẽ thu mua với giá thấp hơn 10 đông/độ TSC so với mức 3.

+ Khi 9,0 < pH ≤ 9,8 mua theo công thức trừ lũy tiến: Cụ thể tăng 0,1 độ pH thì giảm 1 đồng/TSC áp dụng theo đơn giá mủ mức 2. Ví dụ: Khi pH =9,1 thì giá thu mua giảm 1 đồng/TSC so mức 2; Khi pH =9,2 thì giá thu mua giảm 2 đồng/TSC so mức 2.

+ Khi pH >9,8 hoặc mủ thử nghiệm phát hiện chất độn, chất bảo quản không phải NH3 thì thu mua bằng 80% mủ mức 1.

Giá mủ tạp:

Mủ chén, mủ đông có độ DRC ≥ 50% ở mức 18.500 đồng/kg.

Mủ chén, mủ đông có độ DRC từ 45 ≤ DRC < 50% ở mức 17.200 đồng/kg.

Mủ đông có độ DRC từ 35 ≤ DRC <  45% ở mức 13.800 đồng/kg.

DRC dưới 35% công ty không thu mua.

Công ty cao su Bình Long:.

Giá thu mua mủ nước tại nhà máy ở mức lên 422 đồng/TSC/kg.

Giá thu mua mủ nước tại đội sản xuất ở mức 412 đồng/TSC/kg.

 Giá thu mua mủ tạp có độ DRC=60% có giá 14.000 đồng/kg.

Giá cao su trên thế giới hôm nay:

Tại sàn Tocom (Tokyo – Nhật Bản)

Mức giá dao động : từ khoảng 316 – 324,7 JPY/kg.

Đầu tuần giá giảm nhẹ, nhiều kỳ hạn mất từ 0,03 – 0,65%. Giữa tuần xuất hiện các phiên biến động trái chiều, có hợp đồng giảm hơn 1% (tháng 10/2025), song cũng có hợp đồng tăng trên 1% (tháng 11/2025). Cuối tuần, giá vẫn duy trì dao động quanh mốc 316 – 322 JPY/kg, một số kỳ hạn tăng trở lại, cho thấy thị trường có dấu hiệu phục hồi.

Sàn Tocom tuần qua biến động đan xen, nhưng mức giảm không sâu. Thị trường chủ yếu đi ngang với những phiên hồi phục nhẹ, phản ánh tâm lý thận trọng của giới đầu tư trước xu hướng giảm mạnh tại thị trường Singapore.

Tại sàn SGX (Singapore)

Mức giá dao động: từ khoảng 173 – 180,6 cent/kg.

Đầu tuần, giá giảm nhẹ dưới 1%. Giữa tuần chứng kiến 3 phiên giảm liên tiếp, mức giảm mạnh nhất trên 2% (tháng 10/2025 về 174 cent/kg). Sau đó có phiên hồi phục, tăng trở lại 0,17 – 0,34%.

Tuy nhiên cuối tuần, giá tiếp tục quay đầu giảm, rơi về vùng 173 – 175 cent/kg thấp nhất trong tuần.

Sàn SGX có biến động rõ rệt hơn Tocom, thể hiện xu hướng giảm chiếm ưu thế. Việc hồi phục chỉ mang tính ngắn hạn, chưa tạo được lực hỗ trợ vững chắc. Xu hướng giảm kéo dài cho thấy áp lực cung – cầu toàn cầu vẫn còn lớn.

Sàn Tocom (Tokyo): biến động trong biên độ hẹp, dao động quanh 320 JPY/kg, xu hướng chủ yếu đi ngang – tăng giảm xen kẽ.

Sàn SGX (Singapore): giảm mạnh và kéo dài, dù có một phiên bật tăng nhưng không duy trì được, kết tuần ở vùng giá thấp nhất.

Trong khi thị trường Nhật Bản cho thấy sự ổn định tương đối, thị trường Singapore lại phản ánh sức ép giảm giá mạnh.

Lê Thanh (t/h)