Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Cập nhật giá thép thế giới

Khép lại phiên giao dịch ngày 21/5, giá thép thanh kỳ hạn giao tháng 6/2026 trên Sàn Thượng Hải giảm 2 nhân dân tệ, tương đương 0,06%, xuống còn 3.151 nhân dân tệ/tấn.

Trong khi đó, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 6/2026 trên Sàn Đại Liên cũng đi xuống 0,67% (tương ứng giảm 5,5 nhân dân tệ), còn 811,5 nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Singapore, giá quặng sắt cùng kỳ hạn giảm 1,4 USD, lùi về mức 105,85 USD/tấn.

Giá quặng sắt tiếp tục giảm mạnh trong phiên giao dịch, xuống mức thấp nhất trong ba tuần do nguồn cung từ Australia và Brazil gia tăng, trong khi lượng tồn kho tại các cảng Trung Quốc vẫn ở mức cao, tạo áp lực lớn lên thị trường.

Trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt giao tháng 9/2026 giảm 1,07% xuống còn 789,5 nhân dân tệ/tấn, thấp nhất kể từ ngày 30/4 và ghi nhận phiên giảm thứ 8 liên tiếp. Cùng chiều, hợp đồng quặng sắt chuẩn giao tháng 6 trên Sàn Singapore giảm 1,6% xuống 105,55 USD/tấn, đánh dấu chuỗi giảm kéo dài sang phiên thứ 6.

Theo hãng tư vấn Mysteel, lượng quặng sắt vận chuyển từ Australia và Brazil tăng so với tuần trước, trong khi tồn kho tại 47 cảng của Trung Quốc tăng thêm 4,193 triệu tấn, tương đương 17%. Dù đã hạ nhiệt so với mức đỉnh hồi tháng 3, lượng tồn kho hiện vẫn ở mức cao do các nhà máy thép giải phóng hàng chậm.

Hongyuan Futures cho rằng nguồn cung quặng sắt có thể tiếp tục tăng trong thời gian tới, trong bối cảnh các lò cao tại Trung Quốc đã hoạt động ở công suất lớn, khiến dư địa tăng nhu cầu nguyên liệu không còn nhiều.

Ngoài áp lực nguồn cung, nhu cầu thép cũng suy yếu do mưa lớn kéo dài tại miền nam và miền trung Trung Quốc, ảnh hưởng đến các địa phương sản xuất thép trọng điểm như Guizhou, Guangxi và Hubei. Theo Everbright Futures, nhiều dự án xây dựng bị đình trệ bởi thời tiết xấu, kéo nhu cầu tiêu thụ thép thành phẩm đi xuống.

Mưa lũ diện rộng cũng gây thiệt hại nghiêm trọng tại nhiều địa phương Trung Quốc, khiến ít nhất 21 người thiệt mạng, đồng thời làm gián đoạn giao thông, nguồn điện và hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ở nhóm nguyên liệu đầu vào khác trên DCE, giá than cốc giảm 1,69%, còn than luyện cốc giảm 1,1%. Trên Sàn Giao dịch Hợp đồng tương lai Thượng Hải (SHFE), giá thép diễn biến trái chiều khi thép thanh giảm 0,44%, thép cuộn cán nóng giảm 0,59%, trong khi thép dây tăng nhẹ 0,12% và thép không gỉ đi ngang.

Cập nhật giá thép trong nước

Thị trường thép xây dựng trong nước tiếp tục duy trì ổn định. Tại Hòa Phát, giá thép CB240 và D10 CB300 cùng ở mức 15.430 đồng/kg.

Trong khi đó, Thép Việt Ý miền Bắc niêm yết thép CB240 ở mức 15.150 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.700 đồng/kg. Với Thép Việt Đức miền Bắc, giá CB240 và CB300 lần lượt đạt 15.250 đồng/kg và 15.050 đồng/kg.

Một số thương hiệu khác như VJS miền Bắc, Pomina và Thép Miền Nam hiện vẫn giữ nguyên mặt bằng giá bán.

Hà Trần (t/h)