
Giá thép thế giới
Trên thị trường thế giới, giá thép và quặng sắt kỳ hạn đồng loạt tăng nhẹ trong phiên giao dịch ngày 6/7. Cụ thể, giá thép thanh giao tháng 8/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) tăng 3 nhân dân tệ (0,10%) lên 3.054 nhân dân tệ/tấn. Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 8 trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE) cũng tăng 1,5 nhân dân tệ (0,20%) lên 743 nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt cùng kỳ hạn tăng 0,54 USD (0,55%) lên 98,35 USD/tấn.
Trên thị trường phôi thép dẹt, giá tại hầu hết các khu vực đã quay đầu giảm trong tháng 6 sau giai đoạn duy trì ở mức cao từ tháng 3, theo GMK Center. Mức giảm phổ biến dao động 20–30 USD/tấn. Đáng chú ý, giá phôi dẹt xuất khẩu tham chiếu của Brazil giảm 20 USD, xuống còn 580 USD/tấn (FOB), đánh dấu nhịp điều chỉnh sau chuỗi tăng kéo dài.
Theo SteelOrbis, dù điều chỉnh, giá phôi dẹt của Brazil vẫn ở vùng cao nhất trong gần hai năm nhờ nhu cầu nội địa và xuất khẩu duy trì tích cực. Tuy nhiên, xuất khẩu trong tháng 5 giảm 43% so với tháng trước, còn 391.000 tấn, sau khi tăng gấp 2,3 lần trong tháng 4.
Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu trong nước tăng mạnh khi thép dẹt cán nguội và thép mạ sản xuất nội địa dần thay thế hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sau khi Brazil áp thuế chống bán phá giá từ tháng 2. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất thép Brazil (IAB), sản lượng bán thành phẩm tháng 5 đạt 792.000 tấn, tăng 33% so với tháng trước, trong đó phôi dẹt chiếm 751.000 tấn. Lũy kế 5 tháng đầu năm đạt 3,5 triệu tấn, tăng 6% so với cùng kỳ.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, giá phôi dẹt FOB Biển Đen duy trì ở mức 515 USD/tấn trong phần lớn tháng 6 trước khi giảm nhẹ vào cuối tháng do nhu cầu từ các nhà máy suy yếu, trong bối cảnh giá phế liệu và nhu cầu thép thanh cùng đi xuống. Theo Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ (TUIK), nhập khẩu phôi dẹt trong tháng 5 tăng 32% so với tháng trước, lên 370.000 tấn với giá bình quân 487 USD/tấn. Nga và Malaysia tiếp tục là hai nguồn cung lớn nhất. Trong khi đó, các nhà sản xuất trong nước đang đẩy mạnh sử dụng nguyên liệu tự sản xuất, đưa sản lượng 5 tháng đầu năm tăng 20%, đạt 6,7 triệu tấn.
Tại các thị trường khác, xu hướng giảm giá cũng diễn ra khá rõ nét. Giá phôi dẹt Trung Quốc giao Indonesia giảm còn 510–515 USD/tấn (CFR) trong tháng 6, thấp hơn mức 530–535 USD/tấn của tháng trước. Theo Kallanish, đồng rupiah suy yếu khiến các nhà cung cấp ưu tiên xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ – những thị trường có mức giá hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ yếu tại Trung Quốc và nhiều khu vực trên thế giới, cùng với những bất ổn tại châu Âu, khiến hoạt động giao dịch xuất khẩu phôi dẹt châu Á diễn ra trầm lắng.
Tại Nhật Bản, giá phôi dẹt bình quân trong tháng 6 giảm khoảng 30 USD/tấn, xuống còn 520 USD/tấn, sau khi tăng mạnh 70 USD/tấn trong tháng 4.
Giá thép xây dựng trong nước
Thị trường thép xây dựng trong nước tiếp tục ổn định khi các doanh nghiệp duy trì mặt bằng giá bán. Theo đó, Hòa Phát niêm yết thép CB240 và D10 CB300 cùng ở mức 15.120 đồng/kg. Tại khu vực miền Bắc, Thép Việt Ý báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg, trong khi Thép Việt Đức giữ giá CB240 và D10 CB300 ở mức 14.750 đồng/kg.
Đối với các thương hiệu khác, Thép VJS miền Bắc lần lượt niêm yết thép CB240 và D10 CB300 ở mức 14.850 đồng/kg và 14.750 đồng/kg. Trong khi đó, Thép Thái Nguyên báo giá CB240 ở mức 14.990 đồng/kg, còn D10 CB300 được chào bán với giá 14.890 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)






















