Giá tiêu trong nước giảm 1.000 – 1.500 đồng/kg
Bước sang phiên giao dịch đầu tháng 3, thị trường hồ tiêu nội địa quay đầu giảm sau những phiên tăng nhẹ trước đó. Mặt bằng giá hiện phổ biến ở mức 147.500 – 148.000 đồng/kg, thấp hơn đáng kể so với ngưỡng 150.000 đồng/kg từng thiết lập trước đó.
Tại các vùng trồng trọng điểm, Đắk Lắk và Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận mức giảm mạnh nhất 1.500 đồng/kg, đưa giá thu mua về 148.000 đồng/kg. Đắk Nông (Lâm Đồng) giảm 1.000 đồng/kg, giao dịch quanh 148.000 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg, xuống mức 147.500 đồng/kg, hiện là địa phương có giá thấp nhất trong nhóm khảo sát.
Diễn biến trồi sụt liên tiếp những ngày gần đây cho thấy cung – cầu vẫn trong trạng thái giằng co, đặc biệt khi vụ thu hoạch chính đang bước vào cao điểm. Nguồn hàng mới ra thị trường gia tăng khiến lực bán từ nông dân mạnh hơn, tạo áp lực điều chỉnh ngắn hạn.
Tuy nhiên, nếu so với giai đoạn giá xuống thấp trong các năm 2020 – 2021, mặt bằng hiện tại vẫn ở mức cao, giúp nhiều hộ trồng tiêu duy trì lợi nhuận tích cực. Điều này cũng góp phần hạn chế nguy cơ giảm sâu trong bối cảnh nhu cầu xuất khẩu vẫn duy trì ổn định.

Giá tiêu thế giới điều chỉnh nhẹ, Indonesia giảm giá
Trên thị trường quốc tế, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia giảm 9 USD/tấn, tương đương 0,13%, xuống còn 7.011 USD/tấn. Giá tiêu trắng Muntok của Indonesia cũng giảm 12 USD/tấn, còn 9.339 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tại nhiều quốc gia sản xuất lớn khác tương đối ổn định. Tiêu đen Brazil ASTA 570 tiếp tục duy trì ở mức 6.175 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia giữ mức 9.100 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l vẫn dao động trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu duy trì quanh mức 9.150 USD/tấn. Việc Indonesia điều chỉnh giảm nhẹ cho thấy thị trường toàn cầu đang ở trạng thái cân bằng mong manh, chưa xuất hiện yếu tố đột biến về cung – cầu.
Xuất khẩu tháng 1 tăng mạnh so với cùng kỳ
Theo Cục Xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương, dẫn số liệu từ cơ quan hải quan, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 1/2026 đạt 21,66 nghìn tấn, kim ngạch 139,2 triệu USD. So với tháng 12/2025, lượng xuất khẩu giảm 1,6% và trị giá giảm 4%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ tháng 1/2025, con số này tăng mạnh 67,9% về lượng và 60% về trị giá.
Giá xuất khẩu bình quân tháng 1 đạt 6.429 USD/tấn, giảm 2,4% so với tháng trước và giảm 4,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
Về cơ cấu, hạt tiêu đen vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 65,03% tổng lượng xuất khẩu, tiếp theo là tiêu trắng chiếm 14,94% và tiêu đen xay chiếm 11,5%. Đáng chú ý, xuất khẩu tiêu trắng tăng mạnh 46,2% về lượng và 8,9% về trị giá so với tháng trước, trong khi tiêu đen và tiêu đen xay đều giảm.
Tỷ trọng tiêu chế biến sâu như xay, nghiền chỉ chiếm 15,45% tổng lượng xuất khẩu, thấp hơn mức hơn 20% của cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn ưu tiên xuất khẩu nguyên liệu thô nhằm tận dụng lợi thế giá giao ngay.
Mỹ tiếp tục là thị trường chủ lực
Trong tháng đầu năm, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam, chiếm 24,5% tổng lượng xuất khẩu, tăng so với mức 21,73% cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, nhiều thị trường ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng như Thái Lan, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất và Canada, cho thấy nhu cầu toàn cầu đối với hồ tiêu vẫn duy trì tích cực.
Giá tiêu hôm nay quay đầu giảm nhưng chưa phát đi tín hiệu suy yếu dài hạn. Những nhịp điều chỉnh hiện tại được xem là quá trình tự cân bằng khi bước vào chính vụ thu hoạch. Trong ngắn hạn, giá có thể tiếp tục dao động quanh vùng 145.000 – 150.000 đồng/kg, phụ thuộc vào tiến độ thu hoạch, tâm lý găm hàng của nông dân và diễn biến giá thế giới.
Về dài hạn, nếu nguồn cung toàn cầu không tăng đột biến trong khi nhu cầu tiêu thụ vẫn ổn định, hồ tiêu vẫn có cơ hội duy trì mặt bằng giá cao trong chu kỳ hiện tại.
Phương Thảo






















