Giá tiêu trong nước giảm nhẹ

Giá tiêu hôm nay 21/9 tại các vùng trồng trọng điểm trong nước dao động từ 137.000 - 141.000 đồng/kg. So với cuối tuần trước, mặt bằng giá nhìn chung không có nhiều biến động, trong đó Đắk Lắk là địa phương ghi nhận mức giảm 1.000 đồng/kg.

Tại Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá tiêu tiếp tục giữ mức cao nhất cả nước, ở 141.000 đồng/kg. Mức giá này không thay đổi so với tuần trước.

(Ảnh: Internet)

Đắk Lắk hiện giao dịch ở mức 139.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Trong khi đó, tại Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá tiêu duy trì ở mức 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.

Như vậy, sau một tuần giao dịch, chênh lệch giữa mức giá cao nhất và thấp nhất trên thị trường nội địa vẫn là 4.000 đồng/kg. Diễn biến giảm mới xuất hiện cục bộ tại một số địa phương, chưa tạo thành xu hướng điều chỉnh trên diện rộng.

Giá tiêu thế giới cùng đi xuống

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu trong tuần qua cũng ghi nhận xu hướng giảm tại một số nguồn cung lớn ở khu vực châu Á.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia giảm 53 USD/tấn so với tuần trước, xuống còn 6.886 USD/tấn. Giá tiêu đen Malaysia cũng giảm 50 USD/tấn, còn 9.250 USD/tấn.

Ở chiều ngược lại, tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ ổn định ở mức 5.750 USD/tấn.

Giá tiêu đen xuất khẩu Việt Nam không thay đổi, duy trì trong khoảng 6.070 - 6.130 USD/tấn đối với hai quy cách 500 g/l và 550 g/l.

Đối với tiêu trắng, giá Muntok của Indonesia giảm 72 USD/tấn, xuống 9.428 USD/tấn. Tiêu trắng Malaysia giảm 50 USD/tấn, còn 12.150 USD/tấn.

Trong khi đó, tiêu trắng xuất khẩu Việt Nam tiếp tục được giữ ở mức 8.450 USD/tấn.

Diễn biến trên cho thấy thị trường hồ tiêu quốc tế đang có sự phân hóa giữa các nguồn cung. Trong khi Indonesia và Malaysia điều chỉnh giảm, giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam vẫn được duy trì ổn định.

Tây Nguyên giữ vai trò trọng điểm của ngành hồ tiêu

Trong bối cảnh giá hồ tiêu vẫn duy trì ở vùng cao, yêu cầu nâng chất lượng vùng nguyên liệu và phát triển sản xuất bền vững đang ngày càng được chú trọng.

Theo thông tin ngành trồng trọt được Báo Nông nghiệp và Môi trường dẫn lại, khu vực Tây Nguyên hiện có hơn 70.000 ha hồ tiêu, chiếm trên 60% tổng diện tích trồng tiêu của cả nước.

Năng suất bình quân đạt khoảng 2,85 tấn/ha, sản lượng gần 200.000 tấn mỗi năm, tạo sinh kế cho hàng vạn hộ nông dân.

Theo ông Nguyễn Quang Ngọc, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây hồ tiêu thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, phần lớn diện tích hồ tiêu tại khu vực hiện đang trong giai đoạn kinh doanh.

Vì vậy, phương thức chăm sóc các vườn tiêu hiện hữu có vai trò quan trọng đối với sản lượng, chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh của hồ tiêu Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, vùng nguyên liệu hồ tiêu Tây Nguyên vẫn đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có suy giảm sức khỏe đất, áp lực dịch bệnh, nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật và phát thải trong quá trình sản xuất.

Trong hai năm 2025 - 2026, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây hồ tiêu triển khai Dự án sản xuất bền vững hồ tiêu Việt Nam, xây dựng 4 mô hình sản xuất theo hướng cảnh quan, an toàn, giảm dư lượng hóa chất nông nghiệp và giảm phát thải khí nhà kính tại Lâm Đồng và Gia Lai.

Sau một năm áp dụng, các mô hình cho thấy cây tiêu sinh trưởng ổn định hơn, sức sản xuất được cải thiện, tán cây phát triển cân đối và đồng đều.

Giảm tới 80% thuốc bảo vệ thực vật, hạ chi phí sản xuất

Điểm đáng chú ý trong các mô hình sản xuất là việc thay đổi phương thức sử dụng vật tư đầu vào, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu tăng năng suất.

Người trồng được khuyến khích tăng sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng ủ hoai và chế phẩm sinh học, đồng thời giảm lượng phân bón hóa học, đặc biệt là đạm vô cơ.

Thảm thực vật che phủ đất, cây che bóng và cây chắn gió cũng được duy trì nhằm cải thiện chất lượng đất và khả năng giữ ẩm cho vườn.

Đáng chú ý, số lần và cường độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được điều chỉnh theo hướng giảm đáng kể.

Theo ông Nguyễn Quang Ngọc, việc áp dụng đồng bộ các giải pháp giúp lượng thuốc bảo vệ thực vật hóa học giảm từ 57 - 80%. Tổng chi phí sản xuất cũng giảm khoảng 4,6 - 24,1% so với niên vụ trước.

Việc giảm chi phí đầu vào tạo điều kiện cải thiện biên lợi nhuận cho người trồng tiêu mà không hoàn toàn phụ thuộc vào việc giá bán tăng.

Hiệu quả của mô hình còn được thể hiện ở khả năng giảm phát thải trong quá trình canh tác. Tại phần lớn các mô hình, phát thải liên quan đến vật tư nông nghiệp và hoạt động bón phân giảm từ 9% đến hơn 21%.

Phát thải từ tiêu thụ năng lượng và những tổn thất trong sản xuất cũng được kiểm soát. Đáng chú ý, một mô hình ghi nhận mức tiêu thụ năng lượng giảm tới 38,5% sau khi lượng nước tưới cho cây tiêu và cà phê trồng xen được điều chỉnh phù hợp hơn với nhu cầu thực tế.

Dù một số nguồn phát thải có thể tăng trong giai đoạn đầu do yêu cầu cải tạo vườn, kết quả chung của các mô hình cho thấy xu hướng giảm phát thải carbon và kiểm soát dư lượng hóa chất trong sản xuất hồ tiêu.

Đây được xem là hướng đi có ý nghĩa trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu lớn ngày càng nâng cao yêu cầu đối với dư lượng hóa chất, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn sản xuất bền vững. Đối với ngành hồ tiêu Việt Nam, việc nâng chất lượng vùng nguyên liệu không chỉ giúp kiểm soát chi phí sản xuất mà còn góp phần duy trì khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Thảo Phương