Bài 1: Mập mờ tiền đất bồi thường
Bài 2. Nhiều dấu hiệu sai phạm?
Bài 4: Bản Báo cáo đền bù “ Mờ ám”
UBND huyện ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại tố cáo đối với bà Phù Bích Chi trên cơ sở các văn bản luật đã hết hiệu lực (?!). Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện Phú Quốc ban hành bản báo cáo về công tác chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư Dự án Khu du lịch Dân cư Nam Bãi Trường không đúng với thực tế…

Lấy luật “hết hiệu lực” trả lời công dân!
Gửi đơn khiếu nại từ năm 2011, nhưng mãi đến ngày 18/3/2014, UBND huyện Phú Quốc mới tổ chức buổi đối thoại với bà Hồ Bích Chi, dưới sự chủ trì của Chủ tịch UBND huyện Lâm Minh Thành và sự tham gia của các ban, ngành chức năng.
Căn cứ vào các ý kiến của cơ quan chuyên môn, Chủ tịch UBND huyện kết luận: “Qua báo cáo xác minh của Thanh tra và các căn cứ diện tích 29.239 m2 là đất do BQL rừng phòng hộ quản lý từ ngày 18/6/1998, nhưng đến năm 2002, ông Trần Công Sáu mới vào sử dụng là vi phạm Luật Đất đai (?!) sau đó bỏ không sử dụng nữa; đến năm 2006 mới chuyển nhượng lại cho bà Chi không thông qua chính quyền địa phương xác nhận, do đó việc khiếu nại yêu cầu hỗ trợ bằng 40% giá trị quyền sử dụng đất rừng sản xuất là không có cơ sở xem xét. Đề nghị bà Chi phải giao mặt bằng cho đơn vị thi công, nếu không đồng ý thì có quyền tiếp tục khiếu nại…”.
Sau cuộc đối thoại này, Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc, Lâm Minh Thành đã ký ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại của bà Phù Bích Chi số 2563/QĐ-UBND ngày 05/6/2014, theo đó việc khiếu nại của bà Phù Bích Chi là không có cơ sở.
Theo bà Chi: UBND huyện Phú Quốc đã cố tình mập mờ trong việc xác định nguồn gốc đất. Trong Quyết định giải quyết khiếu nại số 2563/QĐ-UBND, huyện Phú Quốc cho rằng, diện tích 29.239 m2 là đất của BQL rừng phòng hộ và đặc dụng Phú Quốc quản lý theo Quyết định số 2163/QĐ-UB ngày 18/6/1998 của UBND tỉnh Kiên Giang. Vậy tại sao UBND huyện Phú Quốc lại không có biên bản xử phạt hành chính đối với ông Trần Công Sáu, khi ông Sáu vào khai khẩn đất hoang năm 2002 (theo như báo cáo của chính quyền địa phương)? Nếu như vậy, UBND huyện Phú Quốc đã buông lỏng quản lý về đất đai, nhất là đối với đất rừng phòng hộ, để cho các hộ dân tự ý lấn chiếm khai khẩn đất hoang để phát triển sản xuất? Nhưng thực tế, ông Trần Công Sáu khai khẩn diện tích đất này từ năm 1992, chứ không phải năm 2002. Hơn nữa, khi triển khai dự án, các cơ quan chức năng đã tiến hành đo đạc và kiểm đếm toàn bộ công trình và vật kiến trúc trên đất để lên phương án đền bù. Vậy tại sao đến nay lại không đền bù cho tôi theo quy định?
Căn cứ Quyết định số 03/2010/QĐ-UBND ngày 11/02/2010 ghi rõ tại Điều 1, Khoản 2, Điểm b: Trường hợp sử dụng đất nằm trong ranh giới quy hoạch đất rừng (rừng phòng hộ và rừng đặc dụng):
- Đối với các trường hợp không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, nhưng đã sử dụng đất ổn định sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 18/6/1998 (ngày có Quyết định giao đất cho BQL rừng phòng hộ), có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền, nhưng thực tế, Nhà nước không quản lý mà người dân vẫn tiếp tục sử dụng, có đầu tư và có thành quả lao động trên đất - được UBND cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp, được hỗ trợ bằng 60% giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm thu hồi đất theo hiện trạng sử dụng của từng loại đất.
Không đồng tình với Quyết định số 2563/QĐ-UB của huyện Phú Quốc, bà Phù Bích Chi tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến UBND tỉnh Kiên Giang. Ngày 31/12/2014, Phó chánh Văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang, Đỗ Thị Lệ Hảo đã ra Thông báo số 812/TB-UBND kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, yêu cầu UBND huyện Phú Quốc hủy bỏ toàn bộ Quyết định số 2563/QĐ-UBND ngày 05/6/2014 vì các căn cứ luật để giải quyết khiếu nại tố cáo đối với bà Phù Bích Chi đã hết hiệu lực từ 01/7/2012.
Đến bản báo cáo đền bù “mờ ám”
Tại bản Báo cáo về tiến độ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư số 199/BC-TTPTQĐ ngày 25/12/2012, do ông Nguyễn Minh Hùng, Phó giám đốc Trung tâm ký, theo đó, tổng số diện tích đất bị thu hồi của dự án là 771.600 m2; diện tích đã nhận là 490.429,5 m2 (đạt 63,56%) diện tích đã nhận; diện tích không được bồi thường hỗ trợ là 678.302,5 m2 (đạt 87,91%); diện tích chưa nhận là 93.297,5 m2 (đạt 12,09%). Trong đó, không ít khu đất được các cơ quan đánh dấu là “vắng chủ”… Nhưng nhiều người dân có đất bị thu hồi nằm trong dự án cho biết, không có thửa đất nào vắng chủ cả. Nếu được gọi là vắng chủ theo như báo cáo của Trung tâm Phát triển Quỹ đất thì số tiền đền bù cho những khu đất “vắng chủ” sẽ lọt vào tay ai?
Danh sách các hộ dân nằm trong dự án của Công ty CP Đầu tư Phát triển Phú Quốc (chủ dự án) có rất nhiều hộ dân có tên, nhưng đến nay vẫn chưa được nhận một đồng nào tiền bồi thường? Các hộ dân này cho biết con số 490.429,5 m2 đã được nhận tiền mà Trung tâm Phát triển Quỹ đất báo cáo là không đúng, mới chỉ có rất ít hộ dân ở phía ngoài đường nhận tiền đền bù mà thôi, còn những hộ dân ở sâu phía trong chưa được nhận một đồng nào hết. Có những hộ dân, thậm chí còn không biết mình đã có tên trong danh sách nhận đền bù (?!).
Đem thắc mắc này đến Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện Phú Quốc, bà Phù Bích Chi được cán bộ ở đây cho biết đó là bản báo cáo “bị nhầm” và đề nghị bà Chi không nên kẹp vào hồ sơ để đi khiếu nại (?!).
Dư luận đặt câu hỏi: Vì sao Trung tâm Phát triển Quỹ đất lại ban hành một bản báo cáo đền bù “mờ ám” như vậy, trong khi con số báo cáo và con số thực tế khác xa?
Đề nghị các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra nhằm làm sáng tỏ những khuất tất trong việc đền bù ở đây.
Phạm Ngọc Thủy




















