
Nguồn cung nội địa bùng nổ trong khi đầu ra xuất khẩu tiểu ngạch bị chặn
Theo phân tích của Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ, nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng dư cung bắt nguồn từ việc các trang trại đồng loạt mở rộng quy mô, tăng đàn cơ học. Sự thành công về mặt lợi nhuận của mảng gà đẻ trứng trong năm 2025 đã kích thích một lượng lớn hộ chăn nuôi heo và gà thịt chuyển đổi công năng sang đầu tư nuôi gà đẻ trứng trên diện rộng, khiến sản lượng trứng bùng nổ trong thời gian ngắn.
Cùng thời điểm, kênh xuất khẩu tiểu ngạch sang thị trường Campuchia vốn là bệ đỡ giải tỏa áp lực cho thị trường nội địa trong năm ngoái bất ngờ gặp khó khăn lớn. Khối lượng trứng không thể thông quan buộc phải quay đầu dội ngược lại thị trường trong nước. Sự cộng hưởng giữa sản lượng tăng mới và lượng hàng xuất khẩu tồn đọng gây ra hiện tượng cung vượt cầu rõ rệt.
Để giải phóng hàng tồn, nhiều doanh nghiệp phải xả bán trứng gà công nghiệp với mức giá chạm đáy, chỉ còn 1.200 đến 1.300 đồng mỗi quả, thậm chí các lô hàng cũ được bán tháo với giá 500 đến 600 đồng mỗi quả. Tại các trại chăn nuôi, trứng cỡ lớn dao động ở mức 1.300 đến 1.400 đồng, còn trứng kích cỡ nhỏ chỉ đạt từ 500 đến 600 đồng mỗi quả. Với mức giá này, người chăn nuôi đang chịu mức lỗ ròng từ 500 đến 800 đồng cho mỗi quả trứng bán ra.
Bên cạnh bài toán giá bán chạm đáy, áp lực chi phí đầu vào tăng cao càng đẩy người nuôi vào chân tường. Do ảnh hưởng từ giá nguyên liệu nhập khẩu và cước vận tải leo thang, giá thức ăn chăn nuôi hiện cao hơn khoảng 1.000 đồng mỗi kg so với năm 2025. Cộng thêm việc giá điện, xăng dầu và chi phí nhân công đồng loạt tăng khiến các trang trại không thể cân đối được dòng tiền.
Nghịch lý thừa trứng tươi nhưng phải chi ngoại tệ nhập bột trứng
Trong bối cảnh trứng tươi trong nước dư thừa trầm trọng thì các doanh nghiệp chế biến thực phẩm, sản xuất bánh kẹo và nước sốt tại Việt Nam vẫn phải chi ra lượng lớn ngoại tệ để nhập khẩu bột trứng. Các sản phẩm như bột nguyên trứng, bột lòng đỏ và bột lòng trắng sở hữu ưu thế tuyệt đối về thời hạn bảo quản, sự tiện lợi trong vận chuyển quy mô công nghiệp và không đòi hỏi hệ thống kho lạnh khắt khe như trứng tươi.
Mặc dù có nguồn trứng tươi dồi dào với giá thành rẻ, ngành sản xuất bột trứng quy mô lớn tại Việt Nam gần như vẫn bỏ ngỏ. Đại diện các doanh nghiệp chế biến thực phẩm hàng đầu như Công ty CP Thực phẩm Vĩnh Thành Đạt (V.Food) thừa nhận, ngành sản xuất trong nước hiện mới chỉ làm chủ được công nghệ chế biến trứng lỏng thanh trùng và đang dần thay thế hoàn toàn hàng nhập khẩu.
Tuy nhiên, đối với phân khúc bột trứng, việc đầu tư nhà máy tại Việt Nam gặp phải rào cản rất lớn về giá thành và không thể cạnh tranh sòng phẳng với nguồn bột trứng giá rẻ nhập khẩu từ Ấn Độ. Dù việc làm chủ công nghệ trứng lỏng đã hoàn thiện hơn một nửa chu trình làm bột trứng, song bài toán tối ưu hóa chi phí sản xuất để đấu lại hàng nhập khẩu vẫn chưa tìm được lời giải, khiến phân khúc này chưa thể thu hút các nhà đầu tư mới.
Chiến lược chế biến sâu và dịch chuyển sang thị trường ngách
Để tháo gỡ khó khăn cho ngành gia cầm, việc đẩy mạnh chế biến sâu nhằm gia tăng giá trị thương mại cho quả trứng được xem là giải pháp khả thi nhất. Các sản phẩm như trứng lỏng thanh trùng, trứng ăn liền hiện có mức tăng trưởng khá tốt, mang lại giá trị kinh tế cao hơn khoảng 30% so với việc tiêu thụ trứng tươi thông thường.
Về kênh xuất khẩu, trong khi trứng tươi gần như không thể xuất khẩu do vướng các rào cản kiểm dịch nghiêm ngặt và quy trình bảo quản ngắn hạn, thì các mặt hàng chế biến sâu lại mở ra cơ hội lớn nhờ thời gian bảo quản dài. Điển hình, trong tháng 6 này, lô hàng trứng ăn liền đầu tiên của doanh nghiệp Việt Nam sẽ chính thức xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản sau 3 năm hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe. Các kế hoạch xuất khẩu sản phẩm trứng lỏng đông lạnh sang Hàn Quốc cũng đang được các bên khẩn trương hoàn thiện.
Bên cạnh việc chế biến sâu, xu hướng dịch chuyển cấu trúc chăn nuôi sang các thị trường ngách như trứng vịt, trứng cút hay gà ta thả vườn cũng là một hướng đi bền vững. Điển hình như mặt hàng trứng vịt muối của Việt Nam hiện vẫn duy trì tốc độ xuất khẩu rất tốt sang các thị trường khu vực như Hồng Kông, Singapore và Đài Loan.
Thay vì chọn phương án đối đầu trực diện với năng lực tài chính và quy mô khổng lồ của các tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong phân khúc gà công nghiệp, các trang trại quy mô vừa và nhỏ trong nước nên tập trung vào những dòng sản phẩm đặc thù. Đây là những phân khúc mà Việt Nam hoàn toàn chủ động được nguồn giống, phù hợp với phương thức chăn nuôi truyền thống và dễ dàng tạo ra sự khác biệt để chiếm lĩnh thị phần.
Tâm An(t/h)
























