NH Thế giới (WB) cho biết, kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục cải thiện và tương đối ổn định; các biện pháp ổn định được tiến hành trong các năm 2011 và 2012 đã giúp Việt Nam giảm lạm phát, cải thiện tài khóa, ổn định tỉ giá.

Những biện pháp thúc đẩy tăng trưởng

Lạm phát giảm liên tục trong vòng 24 tháng qua và dừng ở mức 7,3% vào tháng 7/2013. Thị trường chứng khoán cũng tăng gần 18% năm 2012 và khoảng 19% trong 7 tháng đầu năm 2013, sau khi giảm liền 2 năm (2010 -2011).

Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng ì ạch trên thế giới và tốc độ tái cơ cấu diễn ra chậm, đã khiến tăng trưởng của Việt Nam bị chậm lại. Nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào thời kỳ tăng trưởng chậm kéo dài nhất, kể từ khi bắt đầu đổi mới từ cuối thập niên 1980 tới nay. Tăng trưởng GDP giảm từ 6,4% năm 2010, xuống 6,2% năm 2011 và 5,2% năm 2012. Gần 29.000 DN đã đóng cửa, thanh lý hoặc tạm dừng hoạt động trong nửa đầu năm 2013 (cao hơn 10,5% so với cùng kỳ năm 2012), trong khi con số đăng ký mới là 39.000.

Trước tình hình đó, Chính phủ đã áp dụng một loạt biện pháp thúc đẩy tăng trưởng. NHNN đã tích cực cắt giảm lãi suất nhằm đối phó với giảm tăng trưởng và lạm phát. Các mức lãi suất chính sách đã bị cắt giảm 600 điểm cơ sở trong khoảng thời gian từ tháng 3 - 12/2012 và tiếp tục cắt 200 điểm cơ sở trong khoảng thời gian từ tháng 3 - 4/2013. Bộ Tài chính cũng áp dụng một số biện pháp tài khóa như giảm thuế suất, giãn thuế nhằm giúp các DN đang gặp khó khăn.

Tuy nhiên, tình trạng trì trệ vẫn kéo dài đến quý I/2013 với mức tăng trưởng là 4,9% trong quý I và 5% trong quý II. Tuy lãi suất giảm, nhưng tổng lượng tín dụng bơm vào nền kinh tế chỉ tăng 5% (tính từ đầu năm cho đến tháng 7/2013), trong khi mức kế hoạch cho cả năm là 12%.

WB cho rằng, hoạt động tín dụng kém sôi động do NH không tích cực cho vay vì bảng cân đối tài sản còn xấu, tình hình tài chính không lành mạnh của DNNN, hệ thống theo dõi và báo cáo kém, thiếu minh bạch trong quy trình ra chính sách. Đồng thời, nhu cầu vay tín dụng cũng giảm do viễn cảnh kinh doanh ảm đạm. Nỗ lực kích cầu thông qua chính sách tiền tệ và giãn thuế đã phát huy hết tác dụng, trong khi thâm hụt tài khóa tạo ra các khoản nợ mới. Trong hoàn cảnh đó, các chính sách nới lỏng tiền tệ chỉ có tác dụng hạn chế thúc đẩy tăng trưởng, nhưng lại làm gia tăng quan ngại về chất lượng tín dụng và bất ổn kinh tế vĩ mô. Nhà nước cần tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và tiếp tục tái cơ cấu theo chiều sâu, trong đó tập trung vào DNNN và NH.

Vẫn cần kiểm soát tài khóa…

Tinh thần bi quan về tăng trưởng Việt Nam lại đối nghịch với thành tích xuất khẩu (XK) trong các năm vừa qua. Tổng kim ngạch XK (tính theo mệnh giá danh nghĩa USD) tăng 14% trong 7 tháng đầu năm 2013 (năm 2012, tăng trưởng 18% và năm 2011 tăng 34%).

Trong khi lợi tức XK giảm do giá hàng hóa thế giới giảm thì các ngành truyền thống của Việt Nam như may mặc, giày dép và đồ gỗ vẫn tăng trưởng mạnh. XK hàng công nghệ cao và hàng giá trị cao như điện thoại di động và phụ kiện, máy tính… đã trở thành một bộ phận quan trọng trong kim ngạch XK và có mức tăng trưởng cao nhất trong năm 2013. Thành tích XK dựa chủ yếu vào khu vực đầu tư nước ngoài, hiện chiếm 2/3 tổng kim ngạch XK của Việt Nam.

Tăng trưởng XK, duy trì nguồn vốn từ bên ngoài và kiều hối đổ về, nhập khẩu ít đã giúp Việt Nam giải quyết được vấn đề cán cân thanh toán. Năm 2012, Việt Nam đã đạt mức thặng dư cán cân thanh toán và cán cân vãng lai lớn nhất của mình.

Tài chính công chịu nhiều áp lực trong những năm gần đây do tăng trưởng kém, nguồn thu giảm và tăng chi kích cầu. Năm 2012 thâm hụt ngân sách tăng lên mức 4,8% GDP (theo thống kê tài chính của Chính phủ) do tỷ lệ thu trên GDP giảm xuống chỉ còn 22,8%, mặc dù Chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp khống chế chi đầu tư cơ bản.

WB dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng với mức độ vừa phải 5,3% trong năm 2013. Cán cân thương mại và cán cân vãng lai cũng sẽ duy trì thặng dư trong năm 2013, mặc dù mức thặng dư có thể thấp hơn năm 2012. Trong năm 2013, có thể dự đoán rằng, sẽ vẫn cần kiểm soát tài khóa và tỷ lệ lạm phát sẽ ở một con số nhưng cao.

Thành tích vĩ mô mới đạt được của Việt Nam chưa chắc chắn và vẫn đối mặt với một số rủi ro. Trước hết, tăng trưởng chậm có thể đòi hỏi tiếp tục nới lỏng tiền tệ và tài khóa dẫn đến làm tăng lạm phát và ảnh hưởng xấu lên tất cả những thành tích vừa đạt được. Thứ hai, nếu quá trình tái cơ cấu vẫn bị trì hoãn thì lòng tin của các nhà đầu tư sẽ bị xói mòn và tác động tiêu cực lên tăng trưởng.

Thảo Miên