Theo AMRO, nền kinh tế Việt Nam đang cho thấy sức chống chịu tốt trước các cú sốc bên ngoài nhờ nền tảng sản xuất hướng mạnh vào xuất khẩu, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ổn định cùng nhu cầu tiêu dùng trong nước tiếp tục được duy trì. Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng giúp Việt Nam giữ được tốc độ tăng trưởng trong bối cảnh môi trường kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định.
Một điểm sáng khác là lạm phát của Việt Nam hiện vẫn được kiểm soát trong giới hạn mục tiêu của Chính phủ. Theo nhận định của AMRO, mức tăng giá tiêu dùng đến nay vẫn nằm dưới ngưỡng điều hành 4,5%, tạo dư địa cho các cơ quan quản lý linh hoạt hơn trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, tổ chức này cũng cảnh báo nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với một số sức ép mới, đặc biệt từ diễn biến giá năng lượng thế giới. Căng thẳng tại khu vực Trung Đông leo thang từ cuối tháng 2 đã khiến giá dầu và nhiều mặt hàng năng lượng tăng trở lại, kéo theo giá nhiên liệu bán lẻ trong nước tăng mạnh vào đầu tháng 3. Nếu xu hướng này kéo dài, chi phí sản xuất và vận tải sẽ gia tăng, ảnh hưởng đến sức mua của người dân và làm gia tăng áp lực lạm phát.
Trước bối cảnh đó, AMRO cho rằng, Việt Nam cần triển khai chính sách điều hành đồng bộ, linh hoạt nhưng thận trọng nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì tăng trưởng. Về tài khóa, nên tập trung hỗ trợ có trọng tâm đối với những ngành nghề chịu tác động lớn từ biến động giá năng lượng, thay vì mở rộng chi tiêu đại trà. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách cần được đặt lên hàng đầu để tránh gây thêm sức ép lên cân đối vĩ mô.
Đối với chính sách tiền tệ, AMRO khuyến nghị Việt Nam từng bước thu hẹp các biện pháp nới lỏng trước đây, đồng thời theo dõi chặt chẽ thanh khoản hệ thống ngân hàng, tỷ giá và thị trường ngoại hối. Công tác giám sát tài chính cũng cần được tăng cường, nhất là với tín dụng bất động sản và vay tiêu dùng hộ gia đình nhằm hạn chế rủi ro phát sinh.
Về dài hạn, AMRO đề xuất ba định hướng lớn cho Việt Nam. Thứ nhất, đẩy nhanh nâng cấp công nghiệp trong nước thông qua tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, qua đó nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước. Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện khung chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý đầu tư công phù hợp với quy mô nền kinh tế ngày càng lớn. Thứ ba, phát triển thị trường vốn và cải cách hệ thống tài chính nhằm tạo thêm cơ hội đầu tư trong nước, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và hạn chế dòng vốn đầu cơ chảy ra nước ngoài.
Nam Sơn

























