Quy Mông đẩy mạnh phát triển kinh tế số, xã hội số giai đoạn 2026 - 2030
Quy Mông đẩy mạnh phát triển kinh tế số, xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 (Ảnh: Cổng TTĐT tỉnh Lào Cai)

Mở rộng thị trường cho sản phẩm địa phương trên môi trường số

UBND xã Quy Mông vừa ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn. Kế hoạch nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 của Chính phủ và Kế hoạch số 374/KH-UBND ngày 3/8/2026 của UBND tỉnh Lào Cai, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Theo kế hoạch, xã Quy Mông xác định người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh là trung tâm; ưu tiên những nhiệm vụ trực tiếp tạo thuận lợi trong tiếp cận dịch vụ số, phát triển sản xuất, kinh doanh và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Trong nhóm mục tiêu phát triển kinh tế số đến năm 2030, xã Quy Mông đặt mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ, từng bước hình thành thói quen sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trên môi trường số.

Đáng chú ý, xã phấn đấu 100% sản phẩm OCOP, nông sản chủ lực, sản phẩm đặc trưng đủ điều kiện được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu và đưa lên các sàn thương mại điện tử, nền tảng số phù hợp, qua đó từng bước mở rộng thị trường, nâng cao giá trị và khả năng tiêu thụ sản phẩm địa phương.

Cùng với mở rộng kênh tiêu thụ, xã Quy Mông cũng đặt mục tiêu từ 70% hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh và cơ sở sản xuất, kinh doanh có nhu cầu được tuyên truyền, hướng dẫn tiếp cận và sử dụng nền tảng số trong quản lý, sản xuất, kinh doanh, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.

Đối với thanh toán số, xã phấn đấu từ 70% cơ sở kinh doanh, hộ kinh doanh, hợp tác xã và cơ sở cung cấp dịch vụ có điều kiện và nhu cầu thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt thông qua chuyển khoản, mã QR hoặc các phương thức thanh toán điện tử phù hợp.

Các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có nhu cầu cũng sẽ được tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng hóa đơn điện tử, hợp đồng điện tử, chữ ký số và các phương thức giao dịch điện tử theo quy định. Các chủ thể sản xuất, kinh doanh được hỗ trợ từng bước áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử đối với sản phẩm phù hợp, nhất là sản phẩm OCOP, nông sản chủ lực và sản phẩm đặc trưng.

Đồng thời, xã Quy Mông cũng phấn đấu xây dựng, lựa chọn và từng bước nhân rộng ít nhất một mô hình kinh tế số phù hợp với điều kiện thực tế của xã, ưu tiên những lĩnh vực có lợi thế như nông nghiệp, sản xuất, tiêu thụ nông sản, thương mại và dịch vụ.

Để thực hiện các mục tiêu này, địa phương sẽ hỗ trợ quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm OCOP, nông sản chủ lực, sản phẩm đặc trưng và sản phẩm có lợi thế trên các sàn thương mại điện tử, nền tảng số và kênh trực tuyến phù hợp; phối hợp triển khai truy xuất nguồn gốc điện tử đối với những sản phẩm đủ điều kiện.

Cùng với đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ kinh doanh, hợp tác xã và người dân được vận động sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt. Các cơ sở kinh doanh, dịch vụ được khuyến khích bố trí mã QR thanh toán, tạo thuận lợi cho giao dịch hàng hóa và dịch vụ.

Ứng dụng công nghệ số cũng được định hướng theo từng ngành, lĩnh vực. Trong nông nghiệp, trọng tâm là ứng dụng công nghệ trong sản xuất, quản lý, quảng bá, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm. Đối với thương mại, dịch vụ, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh được khuyến khích sử dụng nền tảng số để quảng bá, bán hàng trực tuyến, quản lý hoạt động kinh doanh, kết nối cung - cầu và thanh toán không dùng tiền mặt.

Bên cạnh đó, kế hoạch dành một nhóm nhiệm vụ cho ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Cán bộ, công chức được khuyến khích nghiên cứu, khai thác các công cụ AI phù hợp phục vụ tham mưu, tổng hợp, xử lý thông tin, xây dựng nội dung tuyên truyền và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, trên cơ sở tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin.

Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh được khuyến khích nghiên cứu ứng dụng AI phù hợp trong quảng bá sản phẩm, xây dựng nội dung, bán hàng trực tuyến, chăm sóc khách hàng, phân tích thông tin thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Phổ cập hạ tầng, kỹ năng để người dân tham gia môi trường số

Cùng với kinh tế số, kế hoạch đặt ra một loạt mục tiêu về hạ tầng và khả năng tiếp cận công nghệ của người dân. Theo đó, đến năm 2030, xã Quy Mông phấn đấu 100% các thôn được cung cấp dịch vụ Internet băng rộng; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng Internet băng rộng cố định đạt từ 90% trở lên. Tỷ lệ hộ gia đình có khả năng truy cập Internet băng rộng cố định với tốc độ 1 Gbps/s được đặt mục tiêu từ 80% trở lên, phù hợp với khả năng đầu tư, nâng cấp hạ tầng của doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn.

Đối với năng lực số, xã Quy Mông phấn đấu ít nhất 99% người trong độ tuổi lao động được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực số cơ bản; tỷ lệ người dân trưởng thành có thiết bị thông minh đạt ít nhất 85%. Tỷ lệ người dân từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân được đặt mục tiêu trên 70%.

Nội dung phổ cập tập trung vào những kỹ năng thiết yếu như sử dụng điện thoại thông minh, Internet, ứng dụng số, dịch vụ công trực tuyến, VNeID, thanh toán không dùng tiền mặt, thương mại điện tử và các nền tảng phục vụ sản xuất, kinh doanh, đời sống.

Tổ công nghệ số cộng đồng tiếp tục được xác định là lực lượng trực tiếp hỗ trợ người dân, với phương thức “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”. Việc hỗ trợ ưu tiên người cao tuổi, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn và những người còn hạn chế về kỹ năng sử dụng công nghệ.

Song song với phổ cập kỹ năng, kế hoạch đặt yêu cầu tăng cường bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Người dân được hướng dẫn nhận diện, phòng tránh các hình thức lừa đảo, giả mạo, chiếm đoạt tài khoản, đánh cắp thông tin và những nguy cơ mất an toàn trên môi trường mạng.

Trong hoạt động của chính quyền cơ sở, xã Quy Mông tiếp tục rà soát, cập nhật và chuẩn hóa dữ liệu; khai thác các nền tảng số, hệ thống thông tin dùng chung; đẩy mạnh số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính, sử dụng chữ ký số, văn bản và hồ sơ điện tử, đồng thời tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu.

Nguồn lực thực hiện kế hoạch được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp hiện hành, lồng ghép trong các chương trình, kế hoạch, đề án, nhiệm vụ có liên quan và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Hằng năm, việc bố trí nguồn lực sẽ căn cứ nhiệm vụ được giao, khả năng cân đối ngân sách và tình hình thực tế; trong đó ưu tiên phát triển hạ tầng số, nâng cấp trang thiết bị công nghệ thông tin, đào tạo kỹ năng số và ứng dụng công nghệ số.

Ngoài ra, địa phương cũng xác định tăng cường huy động nguồn lực xã hội hóa, sự tham gia của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ số, ngân hàng cùng các tổ chức, cá nhân trong hỗ trợ hạ tầng, đào tạo kỹ năng, triển khai mô hình và cung cấp dịch vụ số trên địa bàn.

Hải Minh