Do tâm lý chuộng hàng ngoại của người tiêu dùng nên đã có hiện tượng, DN Việt “xuất ngoại” - đặt cơ sở sản xuất ở nước ngoài rồi tuồn sản phẩm về tiêu thụ trong nước. Để làm rõ hơn về vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trò chuyện với ông Vũ Vinh Phú, Phó chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam.

Ông Vũ Vinh Phú, Phó chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam

Ông suy nghĩ ra sao trước thực trạng, nhiều DN Việt ra nước ngoài sản xuất để có được sản phẩm mác ngoại đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong nước?

Tại sao DN nội không sản xuất trong nước để bán cho người Việt mà lại phải “xuất ngoại”? Đồng nghĩa với việc phải thuê mặt bằng sản xuất với giá có lẽ không hề rẻ, đặc biệt không giải quyết được lao động trong nước… Thậm chí, với nguyên liệu trong nước mà chúng ta phải mang mác của nước ngoài. Trầm trọng hơn, người Việt lại không nhìn thấy mã 893 của hàng Việt mà mua hàng? Đây là điều khiến chúng ta không thể không đau xót và suy nghĩ.

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã được triển khai hơn 4 năm qua. Tuy nhiên, kết quả đạt được lại chưa như mong muốn. Việc người Việt chuộng hàng ngoại vẫn là một sự thực không thể chối cãi.

Ông có thể nói gì về những sản phẩm “ruột nội, mác ngoại” của DN Việt “xuất ngoại” nói riêng và hàng ngoại nói chung?

Các DN “xuất ngoại” đang sản xuất tập trung vào những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như kem đánh răng, kem chống nẻ, dầu gội đầu... Những sản phẩm này có giá trị tuy không lớn nhưng dễ làm, dễ tiêu thụ.

Đặc biệt, không thể không công nhận một sự thật rằng, hàng ngoại có nhiều sản phẩm tốt, mặc dù giá đắt hơn so với hàng nội. Ví dụ như hội chợ Thái Lan tổ chức hàng năm ở Việt Nam và hàng Thái được người Việt tin dùng. Tôi cũng là người tiêu dùng và cũng phải thú thực rằng chưa yêu hàng Việt Nam được nếu hàng Việt không tốt. Chính điểm này khiến DN Việt phải xem lại trong vấn đề sản xuất và tiêu thụ hàng nội.

Có phải các DN “xuất ngoại” đang lách luật đúng?

Có thể là do thiết kế của họ, họ chỉ dời địa điểm sản xuất, nhưng có một băn khoăn đó là hàng sản xuất mang mã nước ngoài. Trong Luật Sở hữu trí tuệ, chưa có điều khoản nào về vấn đề này. Câu hỏi đặt ra là: Có cần phải bổ sung không hay để cho nó dung hòa? Tôi cho rằng, đây là giai đoạn quá độ mà nếu trong xuất khẩu, người ta gọi là “thị trường ngách”... Chính hoàn cảnh buộc các DN này, thậm chí thể chế đất nước nhiều khi chưa tạo thuận lợi cho họ trong kinh doanh khiến họ phải chọn con đường đó. Đã có đại diện DN nói với tôi rằng: Nếu không mang mác ngoại, khó bán hàng. Chỉ khi hàng Việt được người tiêu dùng Việt đón nhận, DN mới về trong nước sản xuất. Đó là câu trả lời rất thật của các DN này.

Theo ông, liệu cơ quan quản lý có biết hiện tượng này không?

Người tiêu dùng còn biết thì không có lý gì cơ quan quản lý không biết, nhưng có lẽ chưa đủ độ chín để họ xử lý, bởi hiện tượng này còn ít, hay cứ tạm thời chấp nhận như thế? Tôi lấy ví dụ, hệ thống siêu thị trên địa bàn Thành phố cũng như cả nước đã có Quyết định 1371 (không bán hàng rởm, hàng giả, hàng kém phẩm chất) của Bộ Công Thương, đưa vào quy chế. Tức là, có những siêu thị không đủ tiêu chuẩn vẫn đang treo biển và tôi đã kiến nghị nhiều lần là phải hạ biển đó xuống không để trắng đen lẫn lộn, nhưng chưa có ai làm. Cho nên, 700 siêu thị mà hiện nay công bố trong cả nước, nếu chiểu theo đúng Quyết định 1371, chỉ có 300 đạt tiêu chuẩn. Quản lý nhà nước chưa chạy theo được thực tế phát sinh trong vận động hàng hóa sản xuất, kinh doanh, nhất là từ khi đổi mới, cho nên tôi nghĩ, hiện nay đang tạm thời chấp nhận chứ không phải buông.

Vậy cần có giải pháp gì để hạn chế hay chấm dứt thực trạng đáng buồn trên?

Từ thực trạng trên, tôi đề nghị phải xem lại các thể chế nhằm khuyến khích sản xuất trong nước. Chúng ta không cải cách thể chế thì không thể mong DN Việt trở về trong nước sản xuất. Phải có giải pháp đồng bộ mới mong khoảng 5 năm nữa các DN này sẽ quay về trong nước sản xuất.

Hơn nữa, thể chế liên quan tới việc thực hiện bán hàng Việt, khuếch trương hàng Việt thế nào… Đã có nhiều DN hoạt động dưới hình thức này mà chúng ta chưa thống kê được, vô tình lại tuyên truyền cho hàng ngoại. Vì thế, các cơ quan quản lý bộ, ngành có liên quan đến sản xuất lưu thông cần phải xem xét thực trạng này một cách nghiêm túc trên cơ sở tìm ra các biện pháp khắc phục.

Mặt khác, vấn đề còn nằm ở nhận thức tiêu dùng của người Việt và công tác tuyên truyền của các cơ quan truyền thông…

Xin cảm ơn ông!

Hà Thu (Thực hiện)