THCL Ngày 18/8, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ ký Công văn số 4068/BGDĐT-GDTrH chỉ đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về triển khai thí điểm mô hình VNEN trong năm học mới 2016 - 2017. Vấn đề đang được dư luận đặc biệt quan tâm.

Thành công và hạn chế

Kết quả 3 năm thử nghiệm cho thấy mô hình VNEN có nhiều điểm tích cực, tạo được môi trường giáo dục thân thiện, dân chủ trong nhà trường và lớp học; học sinh (HS) tích cực, tự lực, tự quản trong học tập; mối liên hệ giữa nhà trường với cha mẹ HS và cộng đồng được tăng cường.

Lợi ích rõ rệt mà VNEN mang lại cho các trường dạy thí điểm là có một số trang thiết bị và kinh phí cải thiện điều kiện dạy học từ tài trợ quốc tế. VNEN cũng góp phần thay đổi phương pháp dạy học.

Trường Tiểu học Tả Thanh Oai (Hà Nội), là một trong những trường triển khai mô hình VNEN từ năm học 2012 - 2013. Cô giáo Hoàng Thị Thu Hà, Hiệu trưởng nhà trường chia sẻ: “Qua quá trình thực hiện VNEN, điều cán bộ giáo viên tâm đắc nhất là sự trưởng thành ở tất cả HS trong lớp. Mô hình cũng đem lại động lực phát triển cho đội ngũ CBGV trong việc đổi mới quan điểm, tư duy, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ một cách tích cực, chủ động”.

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó GĐ Sở GD&ĐT Quảng Trị cho biết: Sau 3 năm triển khai, mô hình VNEN phát huy được tính chủ động, tích cực của HS, GV được tiếp cận phương pháp dạy học mới.

Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình này chưa thực sự phù hợp với điều kiện của nhiều địa phương nên đã gặp nhiều khó khăn. Việc triển khai ồ ạt nên quá trình đánh giá, rút kinh nghiệm thiếu chiều sâu, việc điều chỉnh thiếu căn cơ, chất lượng dạy và học không cao.

Về tổ chức hoạt động, vai trò giáo viên khá mờ nhạt. Ở nhiều lớp, thầy cô gần như buông cho HS “tự bơi” theo nhóm mà không kiểm soát xem kết quả hoạt động thế nào.

Theo TS. Vũ Thu Hương, giảng viên Khoa Giáo dục tiểu học (Trường ĐH Sư phạm Hà Nội): Mô hình VNEN vẫn chưa xử lý hết những tồn tại bất cập như trình độ GV chưa cao, dẫn tới hạn chế khi thực hiện các dự án, tổ chức các chuyên đề, buổi thí nghiệm, sinh hoạt ngoại khóa; nhiều nơi VNEN vẫn được thực hiện hình thức, chứ chưa đi vào thực chất; GV chưa thực sự hiểu và áp dụng máy móc mô hình…

Bà Vũ Thị Phương Vinh, Phó GĐ Sở GDĐT Hải Phòng cho rằng, số lượng các cháu thực sự xuất sắc chiếm tỷ lệ rất nhỏ, còn lại trung bình và yếu vì ỷ lại các bạn khác trong nhóm. Các trò yếu rất dễ bị bỏ rơi, nhất là ở những lớp có đông HS.

Bên cạnh đó, dự án VNEN hiện đang dựa vào chương trình và SGK hiện hành chứ chưa có một bộ SGK riêng. Do vậy, việc áp dụng mô hình này đang gặp khó bởi vì để biên soạn một bộ SGK mới không hề đơn giản.

“Mở lối” cho VNEN?

Nhằm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục phổ thông đã thay đổi từ trang bị kiến thức sang nâng cao năng lực người học, mới đây, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các sở GD&ĐT tiếp tục chủ động nghiên cứu, áp dụng các phương thức giáo dục tiên tiến phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Điểm đáng chú ý trong công văn đó là việc, Bộ sẽ không áp đặt mà khuyến khích các tỉnh, thành phố chủ động nghiên cứu, lựa chọn các thành tố tích cực của mô hình trường học mới để bổ sung vào phương thức giáo dục hiện hành.

“Khuyến khích các cơ sở giáo dục đang triển khai mô hình trường học mới tiếp tục triển khai trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo đạt hiệu quả thiết thực và duy trì trong suốt cấp học vì quyền lợi của HS.

Đối với các cơ sở giáo dục không áp dụng mô hình trường học mới, có thể lựa chọn một số thành tố tích cực của mô hình trường học mới để bổ sung vào đổi mới phương thức giáo dục đang thực hiện, đảm bảo nguyên tắc lấy hoạt động học của HS làm trung tâm”, công văn nêu rõ.

Bên cạnh đó, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho rằng, UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo các cơ sở giáo dục tiếp tục chủ động nghiên cứu đổi mới, sáng tạo trong tổ chức dạy và học; áp dụng các mô hình giáo dục tiên tiến khác phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Đánh giá về vấn đề này, GS. Nguyễn Minh Thuyết, nguyên ĐBQH cho rằng: “Trước mắt, chưa nên mở rộng diện thí điểm mà nên tập trung thực hiện cho tốt ở các nơi đang thí điểm; cần đo lường, đánh giá tỉ mỉ. Sau đó, nếu có kết quả khả quan mới cho nhân rộng dần. Đồng thời xây dựng bộ tiêu chí khách quan để đánh giá dự án này, kịp thời phục vụ việc đổi mới chương trình, SGK phổ thông mà Bộ đang tiến hành theo nghị quyết của Quốc hội”.

Tuy nhiên, GS. Thuyết cũng lưu ý, bộ sách VNEN hiện nay đang dựa vào SGK hiện hành. Nhưng khi có chương trình mới, nếu VNEN trở thành một phương án biên soạn SGK theo phương châm “một chương trình, nhiều sách giáo khoa” thì các tác giả sẽ phải nỗ lực gấp bội vì không còn chỗ dựa nữa. Đó là một việc đòi hỏi rất nhiều công phu, cần bắt tay vào chuẩn bị sớm.

Hải Minh