Tây Nguyên có nhiều lợi thế về quỹ đất và thổ nhưỡng phù hợp với các loại cây trồng giá trị cao. Tuy nhiên, địa hình đồi núi, hạ tầng còn hạn chế và biến đổi khí hậu khiến sản xuất nông nghiệp trong nhiều năm gặp không ít khó khăn. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không còn là khái niệm mang tính lý thuyết mà đã trở thành giải pháp thực tiễn, giúp nông dân đổi mới tư duy canh tác và thích ứng với yêu cầu của thị trường.

Những năm gần đây, cùng với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhiều địa phương Tây Nguyên đã thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất. Các hợp tác xã nông nghiệp giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức lại sản xuất, chuyển giao kỹ thuật và kết nối thị trường. Tại Lâm Đồng, Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Tân Tiến là mô hình tiêu biểu khi mạnh dạn đầu tư hệ thống tưới tự động, quản lý dinh dưỡng cây trồng và số hóa toàn bộ quy trình sản xuất.
Theo ông Mai Văn Khẩn, Chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã, việc ứng dụng công nghệ giúp kiểm soát chính xác lượng nước và dinh dưỡng theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây. Nhờ đó, cây trồng phát triển đồng đều, giảm sâu bệnh và nâng cao năng suất. Nếu trước đây, quản lý 5 ha sản xuất cần tới 5 lao động thường xuyên thì nay chỉ còn 2 người vẫn có thể vận hành hiệu quả, qua đó giảm đáng kể chi phí nhân công.
Là thành viên hợp tác xã, anh Đào Ngọc Tướng Quân cho biết hệ thống tưới và pha trộn tự động dung tích lớn đã rút ngắn thời gian chăm sóc cây trồng từ nhiều giờ xuống chỉ còn khoảng 20 phút mỗi lần vận hành. Năng suất tăng lên rõ rệt, chất lượng nông sản ổn định hơn, giúp thu nhập của gia đình được cải thiện.
Không dừng lại ở tưới tự động, nhiều hợp tác xã tại Lâm Đồng còn nghiên cứu các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện địa hình khó khăn. Hợp tác xã Thủy canh Việt đã ứng dụng hệ thống thủy canh hồi lưu, kết hợp linh hoạt giữa thủy canh nước, giá thể và khí canh. Theo ông Nguyễn Đức Duy, Giám đốc hợp tác xã, mô hình này giúp tiết kiệm tới 90% lượng nước và 75% phân bón, đồng thời giảm mạnh nguy cơ sâu bệnh, qua đó hạ thấp chi phí đầu vào và rủi ro sản xuất. 
Song song với đổi mới công nghệ sản xuất, chuyển đổi số trong tiêu thụ đã mở rộng cánh cửa thị trường cho nông sản Tây Nguyên. Tại xã Ea Bung (Đắk Lắk), Hợp tác xã Giảm nghèo Ea Súp đã giúp người dân chuyển từ trồng lúa tự cung tự cấp sang sản xuất gạo đặc sản theo chuỗi giá trị. Việc áp dụng truy xuất nguồn gốc bằng mã QR giúp minh bạch thông tin sản phẩm, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Nhiều hợp tác xã khác cũng tận dụng mạng xã hội, sàn thương mại điện tử để quảng bá nông sản. Nhờ các kênh trực tuyến, sản phẩm tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, giảm phụ thuộc vào thương lái. Tại Lâm Đồng, doanh thu từ kênh bán hàng online của nhiều hợp tác xã hiện chiếm tỷ trọng lớn, góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ thành viên.
Theo thống kê, đến giữa năm 2025, toàn vùng Tây Nguyên có hơn 1.500 hợp tác xã nông nghiệp, trong đó khoảng 20% đã ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số. Riêng tỉnh Lâm Đồng đã bố trí hơn 70 tỷ đồng hỗ trợ phát triển nông nghiệp thông minh, giúp doanh thu bình quân mỗi hợp tác xã đạt khoảng 2,2 tỷ đồng/năm.
Thực tiễn cho thấy, khi khoa học công nghệ và chuyển đổi số được triển khai phù hợp, nông nghiệp Tây Nguyên không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng mà còn mở ra con đường thoát nghèo bền vững, góp phần cải thiện đời sống người dân vùng sâu, vùng xa và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của khu vực.
Nam Sơn (t/h)
























