Petrovietnam hiện diện ở cả 6 lĩnh vực kinh tế biển trọng tâm theo tinh thần Nghị quyết 36, gồm du lịch và dịch vụ biển, kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí và khoáng sản, nuôi trồng khai thác hải sản, công nghiệp ven biển và năng lượng tái tạo. Không chỉ giữ vai trò cốt lõi trong lĩnh vực dầu khí, Tập đoàn còn phát triển mạnh chuỗi khí - điện - đạm, dịch vụ kỹ thuật biển và từng bước mở rộng sang các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen xanh và công nghệ thu giữ carbon.

Giai đoạn 2018 - 2025, Petrovietnam tiếp tục duy trì vai trò đầu tàu kinh tế biển với tổng sản lượng khai thác dầu khí khoảng 190 - 200 triệu tấn quy dầu, doanh thu đạt 3,5 - 3,8 triệu tỷ đồng và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước. Tập đoàn cũng duy trì sản lượng khí ở mức 9 - 10 tỷ m3/năm, sản lượng điện 30 - 35 tỷ kWh, đáp ứng khoảng 10 - 12% nhu cầu điện quốc gia và bảo đảm 70 - 75% nhu cầu xăng dầu trong nước thông qua các nhà máy lọc dầu.
Không chỉ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, Petrovietnam còn giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh quốc gia trên biển và góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia thông qua hoạt động dầu khí ngoài khơi.
Tuy nhiên, phạm vi hoạt động rộng cũng khiến Petrovietnam đối mặt với nhiều khó khăn về thể chế khi mỗi lĩnh vực chịu sự điều chỉnh của nhiều khung pháp lý khác nhau, thiếu đồng bộ và chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới. Trong khi đó, trữ lượng dầu khí tự nhiên đang suy giảm 10 - 15% mỗi năm, chi phí khai thác ngày càng cao, còn các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen hay CCS lại cần nguồn lực lớn cùng cơ chế linh hoạt hơn.
Từ thực tế đó, Petrovietnam kiến nghị sớm hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí vùng nước sâu, xa bờ; xây dựng cơ chế riêng cho điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen và công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon. Tập đoàn cũng đề xuất các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng xanh và đầu tư để thu hút nguồn lực cho các dự án quy mô lớn.
Để Petrovietnam tiếp tục phát huy vai trò doanh nghiệp nòng cốt trong chiến lược kinh tế biển quốc gia, cần có cơ chế thông thoáng hơn, tăng cường phân cấp, phân quyền và giảm chồng chéo trong quản lý. Đây được xem là điều kiện quan trọng để Tập đoàn mở rộng dư địa phát triển, thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới và đóng góp lớn hơn cho tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Lê Hằng (t/h)


























