Bên cạnh nỗ lực của Nhà nước trong việc phát triển công viên, cây xanh công cộng, một hướng đi đang được nhiều doanh nghiệp cảnh quan Việt theo đuổi là phủ xanh đô thị từ chính mỗi ngôi nhà, mỗi khu dân cư - nơi mà quỹ đất tuy nhỏ nhưng số lượng lại rất lớn.

Khoảng cách giữa chỉ tiêu và thực tế

Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt mục tiêu rất rõ ràng: đến năm 2025, diện tích cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị đạt khoảng 6–8 m²/người; đến năm 2030 đạt khoảng 8-10 m²/người.

Tuy nhiên, theo báo cáo đánh giá thực trạng phát triển hạ tầng đô thị xanh của Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng), tỷ lệ cây xanh bình quân tại các đô thị Việt Nam hiện mới ở mức khoảng 2-3 m²/người. Con số này còn cách khá xa chỉ tiêu xanh tối thiểu 10 m²/người theo khuyến nghị của Liên Hợp Quốc, và càng xa mức 20-25 m²/người của các thành phố hiện đại trên thế giới.

Bức tranh có sự phân hóa rõ giữa các địa phương. Tại Hà Nội, số liệu của Sở Xây dựng cho thấy diện tích xanh đô thị bình quân đạt khoảng 7,78 m²/người tính đến cuối năm 2023 - một kết quả đáng ghi nhận từ chương trình cải tạo, xây mới hàng chục công viên, vườn hoa. Ở chiều ngược lại, TP. Hồ Chí Minh vẫn đang loay hoay với mức chỉ khoảng 0,5-1 m²/người, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn dành cho đô thị đặc biệt.

Trong khi đó, ở cấp độ quốc gia, Đề án "Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021-2025" theo Quyết định số 524/QĐ-TTg ngày 01/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ đã về đích ấn tượng với hơn 1,4 tỷ cây được trồng trên cả nước, vượt xa mục tiêu ban đầu. Kết quả này cho thấy một điều quan trọng: khi có chủ trương đúng và được xã hội hóa rộng rãi, việc phủ xanh hoàn toàn khả thi.

Vấn đề còn lại nằm ở không gian xanh trong lòng đô thị - nơi quỹ đất công đã gần như cạn, giá đất cao, và mỗi mét vuông đều phải cạnh tranh với công năng xây dựng.

Vì sao phủ xanh đô thị không thể chỉ trông vào quỹ đất công

Tại các quận nội đô, việc tìm được vài hecta đất trống để làm công viên là điều gần như bất khả thi. Nhiều dự án khu dân cư mới cũng mới chỉ tập trung hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật mà chưa đầu tư đúng mức cho hệ thống cây xanh theo quy hoạch.

Nhưng nếu nhìn theo hướng khác, đô thị Việt Nam lại đang sở hữu một nguồn lực rất lớn chưa được khai thác đúng cách: hàng triệu khoảng sân, ban công, sân thượng, khoảng lùi và sân vườn biệt thự trong các khu đô thị. Mỗi khoảng không này chỉ vài chục mét vuông, nhưng cộng lại trên quy mô một phường, một quận, chúng tạo thành một mạng lưới "vi mảng xanh" có giá trị sinh thái thực sự.

Ông Trần Đức Tùng, người sáng lập Công ty Cổ phần Cảnh quan KOJI https://koji.vn/ - doanh nghiệp có 10 năm hoạt động trong lĩnh vực thiết kế và thi công cảnh quan sân vườn, đã bàn giao khoảng 300 công trình chia sẻ góc nhìn từ thực tế nghề: "Chúng tôi làm sân vườn cho các gia đình đã nhiều năm. Điều dễ nhận thấy nhất là khi một ngôi nhà có cây, có nước, không khí quanh nhà thay đổi rõ rệt, con người sống trong đó cũng dễ chịu hơn. Nếu mỗi gia đình xanh hóa được phần đất của mình một cách bài bản, cả khu phố sẽ khác".

Bốn nhóm giải pháp phủ xanh đô thị từ góc nhìn doanh nghiệp cảnh quan.

Thứ nhất, xanh hóa theo chiều đứng, không chỉ theo chiều ngang

Khi diện tích mặt bằng hạn chế, mảng xanh cần được tính theo khối tích thay vì chỉ theo diện tích sàn. Giàn cây leo, tường xanh, cây bám mặt đứng, ban công trồng cây, mái xanh trên sân thượng đều là những giải pháp cho phép tăng đáng kể lượng lá cây trên cùng một mét vuông đất.

Công trình mà KOJI đã thực hiện
Công trình mà Koji đã thực hiện. (Ảnh: Công ty cổ phần Cảnh quan KOJI)

Đây cũng là hướng đã được nhiều chuyên gia quy hoạch đề xuất: quy đổi bù phần diện tích cây xanh cho những đô thị trung tâm không còn quỹ đất trống, thông qua các hình thức xanh hóa công trình.

Thứ 2, ưu tiên cây bản địa, tính đến khả năng chống chịu thiên tai

Bài học từ cơn bão số 3 năm 2024 vẫn còn nguyên giá trị: chỉ trong vài ngày, hơn 40.000 cây xanh tại Hà Nội bị gãy đổ, kéo tụt thành quả phủ xanh của nhiều năm. Nguyên nhân không chỉ do cường độ bão, mà còn do cây trồng không đúng kỹ thuật, bầu rễ bị bó, không đủ không gian phát triển hệ rễ.

Với sân vườn tư nhân, nguyên tắc tương tự cần được tuân thủ: chọn cây phù hợp thổ nhưỡng và khí hậu địa phương, tạo đủ không gian đất cho rễ, ưu tiên cây bản địa dễ chăm sóc thay vì cây ngoại nhập đắt tiền nhưng khó thích nghi. Một mảng xanh chỉ có ý nghĩa khi nó sống được lâu dài.

Thứ 3, kết hợp mảng xanh với giải pháp thoát nước và hạ nhiệt

Cây xanh và mặt nước trong khuôn viên nhà ở không chỉ mang giá trị thẩm mỹ. Thảm cỏ, lớp phủ thực vật, vật liệu lát thấm nước và hồ cảnh quan đều góp phần giảm lượng nước mưa chảy tràn ra hệ thống thoát nước chung - một yếu tố có ý nghĩa thực tế với các đô thị thường xuyên úng ngập cục bộ

Cùng với đó, tán cây và mặt nước giúp hạ nhiệt độ bề mặt, giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị vốn ngày càng rõ nét vào mùa hè tại các thành phố lớn.

Thứ tư, chuẩn hóa đội ngũ thi công và trách nhiệm sau bàn giao

Đây là điểm nghẽn ít được nói tới. Nhiều gia chủ sẵn sàng đầu tư cho sân vườn nhưng gặp phải đơn vị thi công thiếu chuyên môn, dẫn đến cây chết sau vài tháng, hệ thống tưới hỏng, chống thấm không đạt. Kết quả là mảng xanh bị tháo dỡ và niềm tin vào việc đầu tư cho không gian xanh cũng mất theo.

Một khu vườn khác với một món đồ nội thất ở chỗ: Ngày bàn giao mới là ngày nó bắt đầu sống. Vì vậy, trách nhiệm của nhà thầu cảnh quan không thể dừng lại ở thời điểm nghiệm thu.

Doanh nghiệp Việt và bài toán xây dựng thương hiệu xanh

Câu chuyện của Koji là một ví dụ về hướng đi của doanh nghiệp Việt trong lĩnh vực cảnh quan. Sau 10 năm và khoảng 300 công trình bàn giao, thay vì cạnh tranh bằng giá, đơn vị này chọn xây dựng thương hiệu dựa trên triết lý: "Kiến tạo những khu vườn không chỉ đẹp để ngắm, mà đáng để sống."

Chân dung ông Trần Đức Tùng - nhà sáng lập Koji chụp tại công trình.
Ông Trần Đức Tùng - nhà sáng lập Koji chụp tại công trình. (Ảnh: Công ty Cổ phần Cảnh quan KOJI)

Theo ông Trần Đức Tùng - Giám đốc Công ty Cổ phần cảnh quan KOJI, quy trình làm việc của Koji không bắt đầu từ bản vẽ mà bắt đầu từ việc tìm hiểu gia đình đó sống như thế nào: "Trước khi bàn đến cây gì, đá gì, chúng tôi hỏi ai là người ở nhà nhiều nhất, gia đình có người lớn tuổi hay trẻ nhỏ không, khu vườn sẽ dùng vào buổi sáng hay buổi tối. Một khu vườn đẹp mà không ai bước ra thì đó là một khu vườn thất bại".

Cách tiếp cận này cũng dẫn đến một nguyên tắc tư vấn khác biệt: Khuyến khích tiết chế thay vì nhồi nhét hạng mục. Không phải khu vườn nào cũng cần hồ cá lớn, thác nước hay hệ thống chiếu sáng phức tạp. Mỗi hạng mục thêm vào đều kéo theo chi phí vận hành và bảo trì mà gia chủ phải gánh trong nhiều năm sau đó.

Đi cùng triết lý đó là một chính sách sau bàn giao được quy định thành quy trình cụ thể. Mỗi công trình khi nghiệm thu đều đi kèm hồ sơ hoàn công và sổ tay chăm sóc riêng, ghi rõ đặc tính từng loại cây trong vườn, lịch tưới, lịch cắt tỉa và những lưu ý theo mùa. Trong ba tháng đầu - giai đoạn cây bén rễ và hệ thống kỹ thuật chạy ổn định, đội kỹ thuật của Koji chủ động quay lại kiểm tra định kỳ mà gia chủ không phải yêu cầu.

Về bảo hành, cây trồng được bảo hành 6 tháng, thay mới miễn phí nếu chết do lỗi kỹ thuật trồng; hệ thống tưới tự động, chiếu sáng sân vườn và lọc nước hồ cảnh quan bảo hành 12 tháng; riêng hạng mục chống thấm hồ và kết cấu xây dựng cảnh quan bảo hành 24 tháng. Sau thời gian bảo hành, khách hàng có thể tiếp tục sử dụng dịch vụ chăm sóc định kỳ.

"Chúng tôi xác định một khu vườn phải đẹp ở năm thứ năm, thứ mười chứ không chỉ đẹp trong ngày chụp ảnh bàn giao. Ràng buộc trách nhiệm bằng cam kết rõ ràng cũng là cách buộc chính đội ngũ của mình làm đúng ngay từ đầu" - ông Tùng nói.

Tú Quyên