Toàn tỉnh Quảng Ninh hiện có 4.108 tàu cá, trong đó có tới 93,3% hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng với tổng số lao động trực tiếp trên biển khoảng 13.200 người. Đây là khu vực có trữ lượng nguồn lợi hạn chế nhưng lại chịu cường lực khai thác lớn nhất. Đáng chú ý, theo rà soát của Sở NN&MT, hiện có khoảng 960 tàu đang sử dụng các nghề có nguy cơ cao gây tổn hại đến nguồn lợi và môi trường như: lưới kéo, nghề cào, lồng xếp, nghề cào...

Ngày 4/2, tại khu vực hòn Cán Đao, vùng biển Ngọc Vừng (đặc khu Vân Đồn), các lực lượng chức năng kiểm tra, bắt giữ tàu cá khai thác thủy sản trái phép
Ngày 4/2, tại khu vực hòn Cán Đao, vùng biển Ngọc Vừng (đặc khu Vân Đồn), các lực lượng chức năng kiểm tra, bắt giữ tàu cá khai thác thủy sản trái phép (Ảnh: Nguyễn Chiến)

Thực tế cho thấy, các nghề khai thác này tồn tại nhiều bất cập. Trước hết là tính chọn lọc thấp, khai thác cả nguồn lợi chưa trưởng thành, dẫn đến suy giảm nhanh trữ lượng hải sản. Bên cạnh đó, những phương thức khai thác mang tính hủy diệt, đặc biệt là nghề lưới kéo, làm xáo trộn tầng đáy, phá vỡ nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài thủy sinh.

Không chỉ ảnh hưởng đến môi trường, hiệu quả kinh tế của các nghề này cũng đang giảm sút rõ rệt. Nhiều tàu cá phải tăng chuyến biển, kéo dài thời gian khai thác nhưng sản lượng và giá trị thu được không tương xứng. Sản phẩm chủ yếu là các loài giá trị thấp, chất lượng không cao do hạn chế về công nghệ bảo quản sau thu hoạch...

Bên cạnh tình trạng khai thác bất hợp pháp (IUU) vẫn còn diễn ra, gây thêm áp lực lên môi trường sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái nhạy cảm như: Rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi triều... đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học nhưng lại đang đứng trước nguy cơ suy thoái.

Từ thực trạng trên, tỉnh xác định việc chuyển đổi nghề khai thác không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Đây là giải pháp mang tính căn cơ nhằm giảm áp lực khai thác, phục hồi hệ sinh thái biển và đảm bảo sinh kế lâu dài cho ngư dân. Ngày 3/3 vừa qua, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án chuyển đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030.

Theo kế hoạch, giai đoạn này, toàn tỉnh dự kiến giảm 862 tàu cá, tập trung chủ yếu ở vùng ven bờ với 840 tàu. Quá trình chuyển đổi được thiết kế theo hướng linh hoạt, có lộ trình và ưu tiên sự tự nguyện của ngư dân, đi kèm với xây dựng các chính sách hỗ trợ cụ thể, tránh gây xáo trộn lớn đến đời sống của cộng đồng ngư dân.

Không dừng lại ở việc giảm khai thác, tỉnh Quảng Ninh cũng mở ra những hướng đi mới nhằm đa dạng hóa sinh kế biển. Nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi biển công nghệ cao, được xác định là một trong những trụ cột thay thế. Bên cạnh đó, các hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá, chế biến thủy sản, du lịch cộng đồng gắn với văn hóa biển cũng được khuyến khích phát triển. Đây không chỉ là giải pháp kinh tế mà còn là cách để nâng cao giá trị gia tăng, giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên.

Việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý nghề cá được đẩy mạnh. Từ số hóa quản lý tàu cá, triển khai nhật ký khai thác điện tử đến ứng dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch, tất cả đều nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong khai thác thủy sản. Đây cũng là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khi các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc và chống khai thác bất hợp pháp ngày càng được siết chặt.

Để đảm bảo kế hoạch triển khai hiệu quả, tỉnh Quảng Ninh yêu cầu Sở NN&MT rà soát, lập danh mục tàu cá theo nghề, niên hạn, vùng hoạt động; xác định nhóm nghề cần giảm, chấm dứt; xây dựng lộ trình chuyển đổi theo từng năm; hướng dẫn kỹ thuật cải hoán tàu, thay đổi ngư cụ, chuyển sang nghề thân thiện môi trường; đề xuất chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề (đào tạo, kỹ thuật, sinh kế, chuyển đổi tàu thuyền, ngư cụ).

Tỉnh Quảng Ninh yêu cầu các cơ quan chức năng, địa phương trực tiếp rà soát, lập danh sách các tàu cá, chủ tàu, thuyền viên thuộc diện chuyển đổi; quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác trên địa bàn; nhu cầu đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm của lao động thuộc diện chuyển đổi nghề khai thác hải sản; kết nối doanh nghiệp tiếp nhận lao động sau chuyển đổi; điều phối các nguồn vốn hợp pháp, các dự án hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ, hợp tác quốc tế để phục vụ chuyển đổi nghề. Đặc biệt, chính quyền cơ sở, các tổ chức hội nghề nghiệp và cộng đồng ngư dân phải phát huy nhằm tạo sự đồng thuận và lan tỏa trong toàn xã hội.

Chuyển đổi nghề khai thác hải sản không chỉ là câu chuyện của riêng ngành thủy sản, mà còn là bài toán tổng thể liên quan đến phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Đây là quá trình khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì, quyết tâm và cách làm phù hợp với thực tiễn. Khi nguồn lợi được phục hồi, môi trường được bảo vệ và sinh kế của ngư dân được đảm bảo, ngành thủy sản sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển lâu dài.

Trần Trang (t/h)