Qua tổng kết việc thi hành Nghị định số 93/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về điều kiện sản xuất mỹ phẩm và các văn bản hướng dẫn liên quan cho thấy nhiều quy định hiện hành đã bộc lộ bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Một số quy định còn mang tính nguyên tắc, thiếu cụ thể như điều kiện sản xuất, thẩm quyền lấy mẫu, kiểm nghiệm mỹ phẩm; một số quy định khác còn chồng chéo, kém khả thi hoặc không còn phù hợp, như cơ chế công bố nhưng vẫn xét hồ sơ trước khi công bố, quy định ghi nhãn chưa theo kịp sự phát triển công nghệ, thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo còn tạo gánh nặng hành chính và chưa phù hợp với xu hướng quản lý hậu kiểm.

Trên cơ sở đó, dự thảo Nghị định về quản lý mỹ phẩm do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo đã đề xuất hoàn thiện khung pháp lý về công bố sản phẩm, sản xuất mỹ phẩm trong nước, quản lý mỹ phẩm nhập khẩu, cấp Giấy chứng nhận lưu hành tự do đối với mỹ phẩm xuất khẩu; quy định về hồ sơ thông tin sản phẩm, ghi nhãn, quảng cáo; kiểm tra, giám sát an toàn, chất lượng và thu hồi sản phẩm vi phạm; đồng thời bổ sung quy định về hồ sơ, thủ tục và lưu trữ hồ sơ trực tuyến. Mỹ phẩm quá cảnh hoặc sản xuất để xuất khẩu không tiêu thụ trong nước không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định; trường hợp đưa vào lưu thông nội địa phải tuân thủ đầy đủ quy định.
Dự thảo Nghị định áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động liên quan đến mỹ phẩm tại Việt Nam. Về công bố sản phẩm, dự thảo chuyển sang cơ chế hậu kiểm theo nguyên tắc “doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm – cơ quan quản lý kiểm tra sau”, phù hợp với Hiệp định mỹ phẩm ASEAN. Doanh nghiệp tự công bố và chịu trách nhiệm về an toàn, chất lượng sản phẩm; cơ quan quản lý tiếp nhận, công khai thông tin và thực hiện kiểm tra sau lưu thông, xử lý vi phạm khi phát hiện không đáp ứng yêu cầu.
Đối với sản xuất mỹ phẩm trong nước, dự thảo thống nhất điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất và CGMP, cho phép cấp đồng thời nhằm đơn giản hóa thủ tục; quy định đánh giá định kỳ, đột xuất và các trường hợp thu hồi giấy chứng nhận. Về mỹ phẩm nhập khẩu, yêu cầu phải công bố trước khi thông quan, trừ một số trường hợp đặc thù; đồng thời quy định việc cấp CFS cho mỹ phẩm sản xuất trong nước để xuất khẩu.
Dự thảo cũng quy định rõ về Hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF), yêu cầu ghi nhãn đầy đủ thông tin theo pháp luật về nhãn hàng hóa, cho phép sử dụng tài liệu kèm theo hoặc nhãn điện tử trong trường hợp đặc biệt; tăng cường kiểm tra, giám sát an toàn, chất lượng mỹ phẩm theo nguyên tắc quản lý rủi ro và phân định rõ trách nhiệm của cơ sở công bố, sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh, đặc biệt đối với các nhóm mỹ phẩm có nguy cơ cao.
Hà Trần






















