THCL Xử lý nợ xấu, cho phá sản các NH yếu kém, giảm lãi suất về 5%, 70% số NH đáp ứng yêu cầu vốn theo basel II - được cho là tham vọng của tái cơ cấu giai đoạn 2.

Xử lý nợ xấu là mục tiêu quan trọng nhất trong tái cơ cấu NH

Tuy nhiên, nhìn lại kết quả tái cơ cấu NH giai đoạn 1 và bối cảnh hiện tại, phải nói rằng, đây là những mục tiêu đầy thách thức.

Dự thảo Đề án Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hé lộ các mục tiêu cụ thể của tái cơ cấu NH đến năm 2020: (1) Tiếp tục cắt giảm tỷ lệ nợ xấu một cách bền vững và cắt giảm đáng kể số NHTM yếu kém; (2) Kéo lãi suất cho vay xuống mức trung bình của các nước đang phát triển là khoảng 5%; (3) Đảm bảo 70% số NHTM thực hiện đầy đủ Basel II vào năm 2020.

Trong giai đoạn 2, xử lý nợ xấu là mục tiêu quan trọng nhất trong tái cơ cấu NH. Nợ xấu được xử lý mới giải phóng nguồn vốn, giảm chi phí, tăng sức mạnh tài chính của NH, từ đó giảm lãi suất, thúc đẩy tín dụng và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về kết quả tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015, nợ xấu đã xử lý được một bước quan trọng, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với an toàn, hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD). Việc xử lý nợ xấu đã mua của VAMC còn chậm do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Giới chuyên môn cho rằng, 2 rào cản lớn nhất trong xử lý nợ xấu đó là việc các TCTD không thể chủ động xử lý tài sản đảm bảo và Việt Nam chưa có thị trường mua bán nợ đúng nghĩa. Muốn gỡ bỏ 2 rào cản này không phải dễ, bởi phải có sự thay đổi đột phá về quan điểm và cần nhanh chóng sửa đổi đồng loạt các luật và quy định liên quan.

Nếu giai đoạn 1 (2011-2015) với dấu ấn lớn nhất là sáp nhập, hợp nhất, mua lại và xử lý nợ xấu... để giảm các đơn vị, tổ chức yếu kém, lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động, cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả của các NH..., thì giai đoạn 2 (2016 - 2020) - là lúc tạo chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới hoạt động, nâng cao quản trị theo thông lệ quốc tế, củng cố nền tảng để tăng hiệu quả, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, nâng cao năng lực canh tranh.

Trong Dự thảo đề án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề xuất áp dụng giải pháp cho phá sản đối với các TCTD yếu kém. Đây là giải pháp cần tính đến trong bối cảnh các giải pháp hợp nhất, sáp nhập chưa đem lại hiệu quả rõ ràng. Tuy nhiên, giá như nó được thực hiện từ những năm trước, còn trong giai đoạn hiện tại, một quyết định phá sản NH - sẽ chịu nhiều áp lực hơn bởi sau một thời gian “lỗ chồng lỗ” thì lỗ lũy kế và nghĩa vụ nợ ròng của nhiều NH đã tăng lên con số khủng khiếp.

Trong lần tái cơ cấu giai đoạn 2 này, mục tiêu là kéo lãi suất cho vay xuống mức trung bình của các nước đang phát triển là khoảng 5%. Điểm khó hiểu trong Dự thảo đề án là mục tiêu đưa lãi suất cho vay về mức 5% lại đi kèm mục tiêu “duy trì ổn định lạm phát và neo kỳ vọng lạm phát ở mức 5%/năm”, nghĩa là người gửi tiền phải chịu lãi suất thực âm nếu trừ đi lạm phát. Hiện tại, chênh lệch lãi suất cho vay và huy động của NH ít nhất ở mức 2 -3% mới đủ bù các chi phí hoạt động và có lãi. Nếu vậy, lạm phát phải khoảng 2% trở xuống thì lãi suất huy động mới thực dương.

Mục tiêu giảm lãi suất cũng phụ thuộc nhiều vào kết quả xử lý nợ xấu và tái cơ cấu các NH yếu kém. Chi phí dự phòng và chi phí vốn cho khoản “tiền chết” ở nợ xấu đang tạo ra rào cản lớn khiến các NH khó có thể giảm lãi suất cho vay. Bên cạnh đó, các NH yếu kém với uy tín thấp cùng với nợ xấu và rủi ro thanh khoản cao nên luôn tiềm ẩn nguy cơ chạy đua lãi suất huy động, từ đó ảnh hưởng xấu đến lãi suất cho vay.

Việc đảm bảo 70% số NHTM thực hiện đầy đủ Basel II vào năm 2020 là một trong những nội dung cho việc tái cơ cấu NH, giai đoạn 2. Tuy nhiên, trong 3 trụ cột của Basel II, trụ cột yêu cầu về vốn tối thiểu là khó đáp ứng nhất. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu theo Basel II là 8%, mặc dù thấp hơn mức 9% hiện tại, nhưng cách tính CAR của Basel II khắt khe hơn do ngoài rủi ro tín dụng, Basel II còn tính đến yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.

Vì vậy, khi áp dụng Basel II, CAR của nhiều NH sẽ giảm và những NH có CAR xung quanh 9% sẽ phải tính đến phương án tăng vốn. Việc tăng phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thời gian qua ít thành công do giá cổ phiếu và cổ tức thấp, nhà đầu tư cũng ngại rủi ro trong quá trình tái cơ cấu. Do đó, nhiều NH đang tăng vốn bằng cách giữ lại lợi nhuận, chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành trái phiếu.

Bên cạnh đó, giải pháp nới room ngoại và các giới hạn sở hữu của cổ đông trong nước cũng đang được các cơ quan chức năng tính đến. Bài toán tăng vốn nói riêng và đáp ứng Basel II nói chung sẽ cần nhiều thời gian.

Ngọc Linh

 

Tái cơ cấu ngân hàng giai đoạn 2:

Nhiều khó khăn, thách thức

Xử lý nợ xấu, cho phá sản các NH yếu kém, giảm lãi suất về 5%, 70% số NH đáp ứng yêu cầu vốn theo basel II - được cho là tham vọng của tái cơ cấu giai đoạn 2.

Tuy nhiên, nhìn lại kết quả tái cơ cấu NH giai đoạn 1 và bối cảnh hiện tại, phải nói rằng, đây là những mục tiêu đầy thách thức.

Dự thảo Đề án Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hé lộ các mục tiêu cụ thể của tái cơ cấu NH đến năm 2020: (1) Tiếp tục cắt giảm tỷ lệ nợ xấu một cách bền vững và cắt giảm đáng kể số NHTM yếu kém; (2) Kéo lãi suất cho vay xuống mức trung bình của các nước đang phát triển là khoảng 5%; (3) Đảm bảo 70% số NHTM thực hiện đầy đủ Basel II vào năm 2020.

Trong giai đoạn 2, xử lý nợ xấu là mục tiêu quan trọng nhất trong tái cơ cấu NH. Nợ xấu được xử lý mới giải phóng nguồn vốn, giảm chi phí, tăng sức mạnh tài chính của NH, từ đó giảm lãi suất, thúc đẩy tín dụng và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về kết quả tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015, nợ xấu đã xử lý được một bước quan trọng, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với an toàn, hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD). Việc xử lý nợ xấu đã mua của VAMC còn chậm do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Giới chuyên môn cho rằng, 2 rào cản lớn nhất trong xử lý nợ xấu đó là việc các TCTD không thể chủ động xử lý tài sản đảm bảo và Việt Nam chưa có thị trường mua bán nợ đúng nghĩa. Muốn gỡ bỏ 2 rào cản này không phải dễ, bởi phải có sự thay đổi đột phá về quan điểm và cần nhanh chóng sửa đổi đồng loạt các luật và quy định liên quan.

Nếu giai đoạn 1 (2011-2015) với dấu ấn lớn nhất là sáp nhập, hợp nhất, mua lại và xử lý nợ xấu... để giảm các đơn vị, tổ chức yếu kém, lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động, cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả của các NH..., thì giai đoạn 2 (2016 - 2020) - là lúc tạo chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới hoạt động, nâng cao quản trị theo thông lệ quốc tế, củng cố nền tảng để tăng hiệu quả, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, nâng cao năng lực canh tranh.

Trong Dự thảo đề án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề xuất áp dụng giải pháp cho phá sản đối với các TCTD yếu kém. Đây là giải pháp cần tính đến trong bối cảnh các giải pháp hợp nhất, sáp nhập chưa đem lại hiệu quả rõ ràng. Tuy nhiên, giá như nó được thực hiện từ những năm trước, còn trong giai đoạn hiện tại, một quyết định phá sản NH - sẽ chịu nhiều áp lực hơn bởi sau một thời gian “lỗ chồng lỗ” thì lỗ lũy kế và nghĩa vụ nợ ròng của nhiều NH đã tăng lên con số khủng khiếp.

Trong lần tái cơ cấu giai đoạn 2 này, mục tiêu là kéo lãi suất cho vay xuống mức trung bình của các nước đang phát triển là khoảng 5%. Điểm khó hiểu trong Dự thảo đề án là mục tiêu đưa lãi suất cho vay về mức 5% lại đi kèm mục tiêu “duy trì ổn định lạm phát và neo kỳ vọng lạm phát ở mức 5%/năm”, nghĩa là người gửi tiền phải chịu lãi suất thực âm nếu trừ đi lạm phát. Hiện tại, chênh lệch lãi suất cho vay và huy động của NH ít nhất ở mức 2 -3% mới đủ bù các chi phí hoạt động và có lãi. Nếu vậy, lạm phát phải khoảng 2% trở xuống thì lãi suất huy động mới thực dương.

Mục tiêu giảm lãi suất cũng phụ thuộc nhiều vào kết quả xử lý nợ xấu và tái cơ cấu các NH yếu kém. Chi phí dự phòng và chi phí vốn cho khoản “tiền chết” ở nợ xấu đang tạo ra rào cản lớn khiến các NH khó có thể giảm lãi suất cho vay. Bên cạnh đó, các NH yếu kém với uy tín thấp cùng với nợ xấu và rủi ro thanh khoản cao nên luôn tiềm ẩn nguy cơ chạy đua lãi suất huy động, từ đó ảnh hưởng xấu đến lãi suất cho vay.

Việc đảm bảo 70% số NHTM thực hiện đầy đủ Basel II vào năm 2020 là một trong những nội dung cho việc tái cơ cấu NH, giai đoạn 2. Tuy nhiên, trong 3 trụ cột của Basel II, trụ cột yêu cầu về vốn tối thiểu là khó đáp ứng nhất. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu theo Basel II là 8%, mặc dù thấp hơn mức 9% hiện tại, nhưng cách tính CAR của Basel II khắt khe hơn do ngoài rủi ro tín dụng, Basel II còn tính đến yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.

Vì vậy, khi áp dụng Basel II, CAR của nhiều NH sẽ giảm và những NH có CAR xung quanh 9% sẽ phải tính đến phương án tăng vốn. Việc tăng phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thời gian qua ít thành công do giá cổ phiếu và cổ tức thấp, nhà đầu tư cũng ngại rủi ro trong quá trình tái cơ cấu. Do đó, nhiều NH đang tăng vốn bằng cách giữ lại lợi nhuận, chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành trái phiếu.

Bên cạnh đó, giải pháp nới room ngoại và các giới hạn sở hữu của cổ đông trong nước cũng đang được các cơ quan chức năng tính đến. Bài toán tăng vốn nói riêng và đáp ứng Basel II nói chung sẽ cần nhiều thời gian.

Ngọc Linh

Chú thích ảnh

Ảnh: Xử lý nợ xấu là mục tiêu quan trọng nhất trong tái cơ cấu NH