Gần đây có nhiều thông tin lan truyền, sản xuất chè tại Thái Nguyên có sử dụng chất tạo màu, quy trình sản xuất chưa an toàn. Tuy nhiên, có dịp tiếp cận, tìm hiểu kỹ “thủ phủ” sản xuất “đặc sản” chè tại Thái Nguyên, chúng tôi nhận thấy, phần lớn bà con sản xuất chè tại Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu… (TP. Thái Nguyên) đều khẳng định, người làm chè đã tham gia vào các hội, HTX, tổ hợp tác sản xuất chè theo VietGAP và UTZ (Certified) - tiêu chuẩn quốc tế được quy định rất nghiêm ngặt cho từng khâu trong quy trình sản xuất.

Mô hình sản xuất chè UTZ

UTZ Certified là một chương trình chứng nhận toàn cầu, đưa ra các tiêu chuẩn về sản xuất và kinh doanh chè có trách nhiệm. Chè UTZ được sản xuất theo các tiêu chí của Bộ nguyên tắc UTZ Certified Good Inside. Chứng nhận UTZ Certified được thực hiện với tất cả các khâu trong suốt chuỗi cung ứng từ khâu canh tác trên đồng ruộng đến chế biến, vận chuyển, lưu kho, đóng gói, tiêu dùng để bảo đảm khả năng truy nguyên nguồn gốc.

Bà Hoàng Thị Minh Thu, Trưởng phòng Kinh tế T.P Thái Nguyên cho biết: “Sản xuất chè theo tiêu chuẩn UTZ Certified giúp cho người nông dân quản lý canh tác nương chè bền vững: khu vực sản xuất phải bảo đảm an toàn, quản lý đất, nguồn gốc giống chè, sâu bệnh, nước tưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và ghi chép nhật ký lưu trữ hồ sơ truy nguyên nguồn gốc… nhằm bảo đảm môi trường sinh thái và sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng.

TP. Thái Nguyên có tổng diện tích chè khoảng 1.500 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh gần 1.400 ha (gần 5.200 số hộ dân sản xuất chè), sản lượng chè búp tươi đạt 18.000 tấn/năm, chủ yếu là các giống chè trung du, TRI777, LDP1, Kim Tuyên… đều là những giống chè được đánh giá có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao làm nguyên liệu cho chế biến chè xanh đặc sản có giá trị kinh tế cao.

Để duy trì và mở rộng diện tích thâm canh chè theo hướng an toàn, Phòng Kinh tế thành phố đã phối hợp với UBND các xã tăng cường công tác tập huấn kỹ thuật sản xuất chè nhằm giúp người dân nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè theo hướng an toàn.

Từ năm 2011 - 2016, Phòng Kinh tế thành phố phối hợp với các đơn vị tổ chức 180 lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất chè an toàn và kỹ thuật trồng chăm sóc phòng trừ sâu bệnh chè cho 10.800 lượt người tham gia.

Sau hơn 5 năm, đến nay, toàn thành phố đã có 9 tổ hợp tác, HTX sản xuất chè an toàn theo VietGAP và UTZ được chứng nhận với diện tích 110 ha, có gần 300 hộ tham gia (trong đó: chứng nhận chè an toàn theo tiêu chuẩn UTZ CERTIFIED là 42 ha tại HTX chè Tân Hương các xã Phúc Xuân, Tân Cương, Phúc Trìu; chứng nhận VietGAP 68 ha tại các xã Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương). Năm 2016, Phòng Kinh tế phối hợp với Ban quản lý Dự án phát triển chè tỉnh Thái Nguyên triển khai 1 mô hình chứng nhậnVietGAP tại Tổ hợp tác sản xuất chè an toàn Khuôn Năm, Dộc Lầy, xã Phúc Xuân với quy mô 13,40 ha, 40 hộ dân tham gia.

Trồng chè, tậu được “xế” hộp

Bà Tống Thị Kim Thoa, Thành viên Hội đồng Quản trị HTX chè Tân Hương chia sẻ: “HTX hiện có 44 hộ dân tham gia, trong đó trồng chè đạt sản lượng cao nhất là bà Đinh Thị Nhuần (trung bình 3 tạ/lứa). Mỗi năm, HTX cung cấp cho nhiều tỉnh trong cả nước khoảng 65 tấn chè khô. Sản phẩm gồm 3 loại chính: Chè búp đặc biệt, chè tôm nõn và chè đinh; giá bán từ 200 nghìn - 3 triệu đồng/kg.

Mỗi năm, 1 ha chè an toàn sản xuất theo quy trình UTZ, xã viên sẽ thu lãi khoảng 400 triệu đồng, nâng mức thu nhập tăng từ 15 - 20% so với cách làm truyền thống trước đây. Đây là đơn vị đầu tiên và duy nhất của tỉnh Thái Nguyên và Việt Nam sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế UTZ Certified”.

Bà Đỗ Thị Mười, xóm Cây Thị, xã Phúc Xuân (TP. Thái Nguyên), thành viên HTX Tân Hương cũng lên tiếng: “Gia đình nhiều đời trồng chè, bản thân tôi cũng có hơn 20 năm trong nghề. Từ năm 2011, khi tham gia vào HTX Tân Hương sản xuất theo mô hình chè an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế UTZ Certified, tôi đã học hỏi được nhiều và thay đổi tư duy, cũng như cách làm.

Làm chè an toàn theo tiêu chuẩn này, cần phải tuân thủ đúng quy trình từ giống cây trồng, đất, nước, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, ghi chép sổ nhật ký nông hộ... đều được kiểm tra và đánh giá thường xuyên. Đặc biệt, chúng tôi được làm quen với nhật ký người trồng chè, mọi thông số đều được ghi chép cẩn thận, tỉ mỉ, rõ ràng. Không những thế, từ khi vào HTX thì giá cả không còn bị lên xuống theo thị trường nữa, chúng tôi được thu mua giá cao, ổn định”.

Được biết, gia đình bà Mười và bà con ở đây, trung bình 1 năm thu hoạch 7 - 8 lứa chè. Mỗi lứa khoảng 80 - 100 kg; thu nhập mỗi lứa khoảng 200 - 250 triệu đồng.

Giữa nắng gắt tháng 6, chúng tôi tiếp tục hành trình tìm hiểu quy trình sản xuất chè sạch, chè an toàn tại xã Tân Cương. Tại đây, nhiều người trồng chè thông báo tin vui đã “tậu” được xế hộp.

Anh Ngô Mạnh Hinh cho biết, gia đình có hơn 10 sào chè. Giá chè hiện dao động ở mức: Đối với sản phẩm chè đinh, 2,8 - 3 triệu đồng/kg; chè tôm nõn, 600.000 - 700.000 đồng/kg; chè móc câu, 250.000 - 300.000 đồng/kg. Khi hỏi “dư luận đang quan tâm đến vấn đề tạo màu, lấy hương trong chè?”, anh nói: Rất nhiều người hiểu lầm việc lấy hương là đánh mốc nên gây cho nhiều người cách hiểu sai.

Theo anh Hinh, trong quy trình sản xuất chè Thái Nguyên thì công đoạn lấy hương là vô cùng quan trọng, có tính quyết định đến chất lượng, màu sắc, hương vị, thủy phần chè. Chè mộc bao gồm cả chè búp, chè cám, chè bồm và cậng (cọng) chè. Lấy hương là quá trình sao tăng nhiệt. Chè mộc màu đen, nhưng lấy hương xong sẽ bóng, nhẵn và cho ra màu xám tro, có một lớp phấn, tuyết thoáng nhẹ trên mặt chè. Đây là nét đặc trưng của vùng chè đặc sản Tân Cương…

Như vậy, Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn UTZ Certified trên địa bàn TP. Thái Nguyên” có ý nghĩa tổng thể về kinh tế - xã hội, phát huy được thế mạnh phát triển sản xuất chè của tỉnh, góp phần tạo ra các liên kết của các hộ nông dân trong sản xuất, cũng như tiêu thụ sản phẩm, từng bước tiến tới tạo ra vùng sản xuất sản phẩm hàng hóa bảo đảm tính bền vững.

Thành công của dự án - sẽ là động lực để người sản xuất, chế biến chè từng bước thay đổi tập quán theo hướng ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, tăng thu nhập cho người sản xuất.

Phòng Kinh tế TP. Thái Nguyên đang xây dựng và trình UBND tỉnh Đề án “Bảo tồn và phát triển vùng chè Tân Cương” với mục đích nhằm phát triển vùng chè đặc sản Tân Cương của TP. Thái Nguyên nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung.


Ngô Tiến - Liên Nguyễn