
Theo kế hoạch năm 2026, thành phố đặt mục tiêu tuyển sinh tối thiểu 3.000 sinh viên đại học, 300 học viên cao học và 40 nghiên cứu sinh tiến sĩ trong các lĩnh vực liên quan đến công nghiệp bán dẫn. Đồng thời, phấn đấu có ít nhất 1.400 sinh viên tốt nghiệp, 110 thạc sĩ và 6 tiến sĩ, từng bước hình thành lực lượng lao động chất lượng cao phục vụ ngành công nghiệp chiến lược này.
Không dừng lại ở đào tạo chính quy, thành phố còn chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện hữu thông qua các chương trình đào tạo lại và bồi dưỡng chuyên sâu cho khoảng 300 kỹ sư, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghệ. Đây được xem là giải pháp “ngắn hạn nhưng hiệu quả nhanh”, góp phần đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thị trường.
Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận gắn chặt đào tạo với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Các chương trình đào tạo được thiết kế theo đơn đặt hàng cụ thể, hướng tới bảo đảm sinh viên sau tốt nghiệp có thể làm việc đúng chuyên ngành, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động – một điểm nghẽn lâu nay của thị trường nhân lực công nghệ cao.
Các cơ sở đào tạo chủ lực được xác định rõ vai trò. Trong đó, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. HCM đảm nhiệm quy mô đào tạo lớn ở cả ba bậc học; Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Công nghệ thông tin tập trung đào tạo chuyên sâu; Trường Đại học Sài Gòn giữ vai trò quan trọng với quy mô đào tạo chiếm hơn 40% tổng chỉ tiêu đại học. Việc phân công này thể hiện định hướng xây dựng hệ thống đào tạo có tính chuyên môn hóa cao, tránh dàn trải nguồn lực.
Song song với phát triển nguồn nhân lực, TP. HCM đặt mục tiêu thúc đẩy hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn thông qua thu hút đầu tư, đặc biệt là các dự án FDI có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và khả năng lan tỏa trong chuỗi cung ứng. Thành phố kỳ vọng thu hút ít nhất 4 dự án đầu tư trong lĩnh vực này trong năm 2026, đồng thời tăng cường hợp tác với các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới.
Về hạ tầng, nhiều dự án trọng điểm được triển khai như xây dựng phòng thí nghiệm bán dẫn dùng chung cấp quốc gia, đầu tư phòng thí nghiệm vi mạch và phát triển trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế tại Khu công nghệ cao. Các nền tảng hỗ trợ như trung tâm tính toán hiệu năng cao (HPC), hệ thống dữ liệu nguồn nhân lực và bản đồ số chuỗi cung ứng cũng được đẩy mạnh, tạo nền tảng kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất.
Ở lĩnh vực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, TP. HCM xác định các hướng ưu tiên như thiết kế chip phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), thiết bị bay không người lái (UAV), đồng thời thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thành phố đặt mục tiêu triển khai ít nhất 2 dự án R&D, ký kết hợp tác quốc tế và từng bước đưa đối tác nước ngoài tham gia trực tiếp vào các dự án thực tế.
Đáng chú ý, hệ sinh thái khởi nghiệp trong lĩnh vực bán dẫn và công nghệ số cốt lõi cũng được quan tâm phát triển. Thành phố dự kiến hỗ trợ ít nhất 10 start-up thông qua các chương trình ươm tạo, kết nối đầu tư và thương mại hóa sản phẩm, qua đó tạo thêm động lực đổi mới từ khu vực tư nhân.
Để bảo đảm tính bền vững, TP. HCM đồng thời nghiên cứu xây dựng các cơ chế tài chính và thể chế mới như quỹ đầu tư mạo hiểm, cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox), cũng như các chính sách thu hút chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia phát triển ngành.
Có thể thấy, chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn của TP. HCM không chỉ dừng ở mục tiêu ngắn hạn về đào tạo hay thu hút đầu tư, mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó nhân lực chất lượng cao là trụ cột, hạ tầng công nghệ là nền tảng và đổi mới sáng tạo là động lực.
Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, cách tiếp cận bài bản và có trọng tâm của TP. HCM được kỳ vọng sẽ tạo ra bước đột phá, góp phần định hình vị thế mới cho ngành công nghiệp bán dẫn trong tương lai.
Hậu Thạch (t/h)
























