THCL Trong buổi tọa đàm với Tổng giám đốc WTO mới đây tại Hà Nội, TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhận định: "Có rất nhiều kỳ vọng đã bị bỏ lỡ trên chuyến tàu WTO của Việt Nam”.

Bước… thụt lùi

TS. Vũ Tiến Lộc chỉ rõ, thứ nhất, cơ hội tăng trưởng không đạt được kỳ vọng. Tăng trưởng GDP 5 năm 2006 - 2010 đạt 7%, 2011 - 2015 là 5,88% - dù vẫn là cao với thế giới, nhưng rõ ràng là thấp hơn so với chính Việt Nam thời kỳ hội nhập hạn chế hơn trước đó (thấp so với 7,51% của giai đoạn 2001 - 2005, thậm chí thấp so với 7% của giai đoạn 1996 - 2000).

Phải chăng, thể chế kinh tế và công tác điều hành vĩ mô của Việt Nam còn chưa theo kịp yêu cầu hội nhập?

Thứ hai, nền nông nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực. Tăng trưởng bình quân của khu vực nông nghiệp năm 2007 - 2011 là 3,4%/năm; 2011 - 2015 là 3,1% (thậm chí năm 2015 mức tăng trưởng là thấp nhất, chỉ 2,21%), trong khi đó, tăng trưởng của ngành này giai đoạn 2001 - 2006 trước WTO là 4%. Chẳng hay, nhóm đối tượng thu nhập thấp, dễ bị tổn thương nhất trong xã hội dường như đã không được lợi hoặc đang chịu áp lực lớn từ hội nhập?

Thứ ba, cơ cấu XNK có vấn đề. Mũi nhọn XK là các ngành sử dụng tài nguyên, nông nghiệp, gia công thâm dụng lao động; nhập siêu lớn và tăng mạnh trong thời kỳ sau WTO.

XK mang lại giá trị gia tăng thấp, dựa trên các lợi thế không bền vững, không tạo động lực cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cho thấy các DN sản xuất của Việt Nam đã không tận dụng được cơ hội của WTO?

"Có lẽ, nền kinh tế Việt Nam đang đi đúng hướng, nhưng tốc độ đó còn chưa kịp với yêu cầu”, TS. Lộc nghi ngại.

Tính tới thời điểm hiện tại, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại của Việt Nam, có 2 dấu mốc đặc biệt quan trọng: Dấu mốc thứ nhất, cách đây 10 năm, Việt Nam gia nhập WTO; dấu mốc thứ hai, thời điểm hiện nay, Việt Nam đã đàm phán, ký kết 02 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các đối tác thương mại lớn nhất đó là TPP và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Những kỳ vọng

Không phủ nhận, WTO đã làm thay đổi diện mạo khung khổ pháp luật, thể chế chính sách về kinh tế thương mại đầu tư, cũng như phương thức quản lý kinh tế của Việt Nam. Gia nhập WTO là sức ép để Việt Nam sửa đổi, điều chỉnh khung khổ pháp luật, chính sách thương mại, đầu tư từ "theo nhu cầu quản lý” của Việt Nam sang "tuân thủ các tiêu chuẩn” của thế giới.

Trong 2 năm liền trước và liền sau thời điểm gia nhập WTO (2006 - 2007), Quốc hội đã sửa trên 60 luật để thực thi cam kết WTO, hàng trăm nghị định, thông tư hướng dẫn cũng đã được sửa đổi. Kết quả là pháp luật kinh doanh ở Việt Nam đã có một diện mạo mới cùng với những thay đổi về chất nhờ WTO.

Gia nhập WTO là động lực để Việt Nam chuyển dần từ phương thức quản lý nhà nước can thiệp hành chính sang phương thức quản lý nhà nước kiến tạo - tôn trọng quyền tự do kinh doanh, theo quy luật thị trường. Gia nhập WTO và nhu cầu cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư tận dụng cơ hội từ WTO - động lực thúc đẩy Việt Nam thực hiện các cải cách theo hướng minh bạch hóa, thuận lợi hóa và nhấn mạnh yếu tố hiệu quả trong vận hành bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế.

TPP, EVFTA bao gồm nhiều cam kết nhắc lại, nhấn mạnh việc tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn về thể chế pháp lý, chính sách của WTO. Thực thi TPP, EVFTA vì thế cũng sẽ là cơ sở để Việt Nam tiếp tục thực hiện tốt hơn, triệt để hơn, hiệu quả hơn các cam kết trong WTO.

TPP, EVFTA đồng thời bao gồm nhiều cam kết quan trọng về thể chế kinh tế - pháp lý, những vấn đề thuộc về khung khổ chính sách đằng sau đường biên giới cao hơn các tiêu chuẩn trong WTO (còn gọi là WTO+). Thực thi TPP, EVFTA, sẽ tạo ra một làn sóng cải cách thể chế kinh tế thứ hai sau WTO, với "độ khó” cao hơn giai đoạn 2006 - 2007 (trong khi bản thân Việt Nam khi thực hiện các cam kết WTO cũng còn gặp khó khăn trong một số trường hợp, ví dụ Hiệp định TRIPS về Sở hữu trí tuệ)…

Hà Thu