THCL Sự phụ thuộc lớn của sản xuất và tiêu dùng trong nước vào nguyên liệu NK tiếp tục là bài toán đau đầu đối với các nhà quản lý kinh tế và các DN nội địa. Nguyên nhân chính là do hệ thống chính sách - định hướng, còn bất cập.

Nhập cả que tăm, đôi đũa
Ông Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia từng cảnh báo, NK những nguyên liệu, máy móc là đầu vào cho quá trình sản xuất còn chấp nhận được. Nhưng nhập cả que tăm, đôi đũa cùng rất nhiều hàng hóa mà Việt Nam đã sản xuất tốt thì không ổn.
“Điều này tác động lâu dài đến khả năng nâng cấp công nghệ của DN bản địa. Có khả năng Việt Nam rơi vào hiệu ứng “giải công nghiệp hóa sớm” khi chỉ XK được sang Trung Quốc các hàng hóa dựa vào tài nguyên và NK hàng công nghiệp chế tạo thành phẩm. Về lâu dài, sẽ làm suy giảm năng suất của Việt Nam dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn”, ông Ngoạn nói.
Nhiều chuyên gia kinh tế lên tiếng về “những hiểm họa của tình trạng nhập siêu lớn”. Chỉ nhìn riêng cấu trúc XNK với Trung Quốc, theo các chuyên gia kinh tế, có thể thấy những bất hợp lý như hiện nay đó là tình trạng Việt Nam chỉ xuất toàn hàng nông sản thô, khoáng sản thô.
Theo PGS. TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: “XK như thế thì cực kỳ thiệt thòi, để các DN của họ làm tiếp và hưởng hết giá trị gia tăng. Còn mình nhập của họ rất nhiều, hầu hết là nguyên liệu đầu vào, để không phải làm. Không những vậy, các DN trong nước nhập hàng của họ để lắp ráp, gia công, nghĩa là đã XK hộ các DN Trung Quốc và chỉ được hưởng chút giá trị ít ỏi. Chúng ta ở đẳng cấp vô cùng thấp. Còn họ thì xuất “ăn” đường xuất, nhập “ăn” đường nhập. Cấu trúc kinh tế của chúng ta sai lệch quá rồi”.
Cơ cấu kinh tế sai lệch?
“Trong câu chuyện này, không thể đổ lỗi hoàn toàn cho DN. Hệ thống chính sách đã làm cho cơ cấu kinh tế sai lệch, không khuyến khích sản xuất trong nước, khiến các ngành công nghiệp luôn nằm ở đáy của chuỗi giá trị”, PGS. TS. Trần Đình Thiên bày tỏ.
Để kiểm soát được sự mất cân đối trong XNK, hạn chế được nhập siêu, cần xét trên quan điểm 2 mặt là NK và XK. Hạn chế nhập siêu - tức là tăng cường thúc đẩy XK và thắt chặt NK.
Tuy nhiên, với các chính sách quản lý NK còn lỏng lẻo, nhiều bất cập, còn các biện pháp hỗ trợ XK ỳ ạch như hiện nay thì rõ ràng, tình hình nhập siêu sẽ khó đổi hướng trong một sớm một chiều.
Chỉ riêng về nguyên liệu, vật liệu đầu vào phụ thuộc quá lớn vào nước ngoài như hiện nay, ngay như các chuyên gia kinh tế cũng chưa hình dung nổi Việt Nam sẽ chuyển hướng ra sao và nếu không chuyển hướng thì được hưởng lợi gì từ các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết?
Chính phủ đã có nhiều biện pháp để về lâu dài, cải thiện cán cân thanh toán. Trong đó, đáng chú ý là Quyết định số 1467/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển các thị trường khu vực thời kỳ 2015 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo Đề án, kim ngạch XK đến năm 2020 phấn đấu đạt 300 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng XK bình quân từ 11 - 12%/năm trong giai đoạn 2015 - 2020; phấn đấu cân bằng thương mại ổn định vào năm 2020 và đạt thặng dư thương mại bền vững từ năm tiếp theo.
Theo TS. Nguyễn Xuân Cương, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc, để giải bài toán về XNK hàng hóa, một mặt Việt Nam phải giảm sự lệ thuộc bất lợi, bất an và rủi ro, mặt khác cần khai thác những lợi thế và hiệu ứng tích cực trong quan hệ thương mại với các nước. Về trước mắt, cần quản lý chặt chẽ hàng hóa XNK với Trung Quốc. Đặc biệt là vấn đề truy xuất xuất xứ hàng hóa. Cấm XK tài nguyên khoáng sản, hạn chế xuất nguyên liệu thô. Xây dựng tiêu chuẩn và hàng rào thương mại, môi trường phù hợp với quy định của WTO nhằm kiểm soát hàng hóa NK từ Trung Quốc.
Hoan Nguyễn



















