Từ cuộc đua mở tài khoản đến bài toán giữ chân nhà đầu tư

Theo số liệu của Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), đến cuối tháng 7/2026, số tài khoản chứng khoán trong nước đạt 13,605 triệu, trong đó tài khoản của nhà đầu tư cá nhân chiếm gần như toàn bộ với 13,585 triệu tài khoản. Nếu tính cả nhà đầu tư nước ngoài, tổng số tài khoản trên hệ thống vượt 13,65 triệu.

Đây là một bước tiến đáng kể nếu nhìn lại quá trình phổ cập chứng khoán trong những năm qua. Tuy nhiên, số lượng tài khoản không thể được sử dụng như thước đo duy nhất về mức độ phát triển của thị trường.

Bởi một tài khoản có thể được mở nhưng không phát sinh giao dịch thường xuyên, hoặc nhà đầu tư chỉ tham gia khi thị trường tăng mạnh rồi rút lui khi xu hướng đảo chiều.

Số lượng tài khoản chứng khoán tăng nhanh nhưng tỷ lệ dân số thực sự tham gia đầu tư vẫn còn khiêm tốn, cho thấy dư địa lớn để mở rộng nền nhà đầu tư.
Số lượng tài khoản chứng khoán tăng nhanh nhưng tỷ lệ dân số thực sự tham gia đầu tư vẫn còn khiêm tốn, cho thấy dư địa lớn để mở rộng nền nhà đầu tư.

Theo bà Nguyễn Ngọc Linh, Tổng giám đốc CTCP Chứng khoán DNSE, sau khi loại trừ tài khoản trùng lặp, tỷ lệ dân số thực sự tham gia đầu tư chứng khoán chỉ khoảng 6%. Trong khi đó, phần lớn tài sản tài chính của hộ gia đình vẫn nằm ngoài thị trường.

Khoảng cách này cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn mở rộng nền nhà đầu tư, thay vì đã bước sang giai đoạn phát triển sâu về chất lượng.

Trong nhiều năm, tâm lý phổ biến của nhà đầu tư cá nhân là tham gia mạnh khi thị trường tăng giá. Những câu chuyện về cổ phiếu tăng nóng, lợi nhuận cao hay cơ hội “đổi đời” dễ dàng thu hút dòng tiền mới. Nhưng khi thị trường điều chỉnh, một bộ phận nhà đầu tư lại nhanh chóng rời bỏ.

FOMO vì thế tạo ra dòng tiền rất nhanh nhưng cũng có thể khiến thị trường hình thành một lớp nhà đầu tư có thời gian tham gia ngắn.

Vấn đề nằm ở chỗ, một thị trường vốn muốn phát triển bền vững cần những dòng tiền có khả năng đi qua cả giai đoạn tăng trưởng lẫn điều chỉnh. Nhà đầu tư dài hạn không chỉ giúp giảm mức độ phụ thuộc vào tâm lý thị trường mà còn tạo nền tảng ổn định hơn cho hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp.

Do đó, câu hỏi quan trọng không phải Việt Nam có bao nhiêu tài khoản chứng khoán, mà là bao nhiêu nhà đầu tư thực sự có kế hoạch tài chính và duy trì danh mục trong dài hạn.

Khi thị trường vốn vẫn chưa theo kịp nhu cầu của nền kinh tế

Bài toán giữ chân nhà đầu tư còn liên quan trực tiếp đến vai trò của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế.

Đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Chỉ trong hơn nửa năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng vốn.

Những con số này cho thấy ngân hàng vẫn đang giữ vai trò trung tâm trong việc cung cấp vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Trong khi đó, đến cuối tháng 6/2026, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10,8 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP năm 2025; thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 22,1% GDP.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Kinh tế trưởng BIDV, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ đòi hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng không còn nhiều. Thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư vì vậy cần phát triển mạnh hơn để chia sẻ áp lực cung ứng vốn.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên VSDC, cũng chỉ ra sự chênh lệch trong cấu trúc dẫn vốn khi dư nợ tín dụng tương đương khoảng 146% GDP, trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu khoảng 82% GDP.

Điều này đặt thị trường chứng khoán trước một yêu cầu lớn hơn: không chỉ là nơi mua bán tài sản tài chính mà phải trở thành một kênh huy động vốn thực chất cho doanh nghiệp.

Muốn vậy, thị trường cần có hàng hóa đủ tốt để giữ dòng tiền.

Một nhà đầu tư sẽ khó duy trì chiến lược dài hạn nếu thị trường thiếu doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng, quản trị minh bạch và tạo ra dòng tiền ổn định. Ngược lại, khi chất lượng doanh nghiệp niêm yết được cải thiện, nhà đầu tư có thêm lý do để chuyển từ đầu cơ ngắn hạn sang tích lũy tài sản.

Đây cũng là điểm mà câu chuyện tăng trưởng kinh tế và diễn biến chứng khoán cần được nhìn nhận thận trọng.

GDP tăng cao không đồng nghĩa VN-Index bắt buộc phải tăng tương ứng. Thị trường cổ phiếu phản ánh kỳ vọng về lợi nhuận doanh nghiệp, lãi suất, dòng tiền, định giá và triển vọng tương lai. Nếu tăng trưởng kinh tế chưa chuyển hóa thành tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết, tác động tới giá cổ phiếu sẽ không diễn ra ngay lập tức.

Vì vậy, muốn chứng khoán trở thành “mạch máu” của nền kinh tế, không thể chỉ kỳ vọng vào số lượng người tham gia. Thị trường phải đồng thời nâng chất lượng doanh nghiệp và khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững.

Giữ nhà đầu tư bằng giá trị thay vì kỳ vọng lợi suất

Một thay đổi quan trọng đối với thị trường trong giai đoạn tới là cách tiếp cận nhà đầu tư.

Thay vì tập trung vào việc cổ phiếu nào đang tăng mạnh, quỹ nào có lợi suất cao hay mã nào đang được thị trường quan tâm, hoạt động tư vấn cần hướng nhà đầu tư tới mục tiêu tài chính cụ thể.

Đó có thể là tích lũy tài sản, chuẩn bị nguồn tài chính cho tương lai, tạo thu nhập bổ sung hoặc bảo toàn vốn. Khi mục tiêu được xác định, danh mục mới được xây dựng dựa trên mức độ chấp nhận rủi ro và thời gian đầu tư.

Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phần lớn nhà đầu tư trên thị trường vẫn là cá nhân.

Công nghệ có thể giúp quá trình này trở nên thuận tiện hơn. eKYC, giao dịch trực tuyến, phân phối chứng chỉ quỹ và các công cụ tư vấn danh mục đang giúp giảm đáng kể rào cản tiếp cận thị trường.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ có thể đưa nhà đầu tư đến thị trường nhanh hơn. Việc họ ở lại bao lâu lại phụ thuộc vào chất lượng thông tin, trải nghiệm đầu tư, mức độ minh bạch và khả năng kiểm soát rủi ro.

Ở góc độ chính sách, Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030 đã xác định việc đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư và nâng cao chất lượng nhà đầu tư cá nhân là một trong những nhiệm vụ quan trọng.

Cùng với đó, việc thu hút thêm các nhà đầu tư tổ chức có thể tạo ra sự cân bằng hơn cho cấu trúc thị trường. Dòng vốn tổ chức thường gắn với các tiêu chí về định giá, nền tảng doanh nghiệp và triển vọng dài hạn, qua đó có thể góp phần giảm sự chi phối của tâm lý ngắn hạn.

Mục tiêu vốn hóa thị trường chứng khoán đạt khoảng 120% GDP vào năm 2028 cũng đặt ra yêu cầu phải mở rộng thị trường theo chiều sâu.

Nếu chỉ tăng vốn hóa nhờ những giai đoạn thị trường tăng nóng, mục tiêu này sẽ khó tạo ra nền tảng bền vững. Ngược lại, nếu vốn hóa tăng cùng với số lượng doanh nghiệp chất lượng, sự tham gia của nhà đầu tư tổ chức và lượng tài sản dài hạn ngày càng lớn, thị trường sẽ có khả năng thực hiện tốt hơn vai trò cung cấp vốn cho nền kinh tế.

13,7 triệu tài khoản vì thế chưa phải là đích đến. Điều thị trường cần xây dựng là một cộng đồng nhà đầu tư thực sự hiểu mình đang đầu tư vào đâu, vì mục tiêu gì và có khả năng duy trì chiến lược qua nhiều chu kỳ.

Khi đó, 6% dân số tham gia đầu tư hiện nay không còn chỉ là một con số khiêm tốn, mà trở thành nền tảng cho một thị trường vốn có thể mở rộng rất mạnh trong những năm tới.

Minh Thành (t/h)