Sau một thời gian triển khai chính sách tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt, kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn chứa đựng những rủi ro, thách thức. Vấn đề lưu thông dòng vốn tín dụng, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu cần được tiếp tục quan tâm và triển khai từ nhiều chính sách khác bên cạnh chính sách tiền tệ.


Vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro

Ông Summit Dutta, Tổng giám đốc HSBC (Ngân hàng Hong Kong và Thượng Hải) Việt Nam đánh giá, khó khăn hiện nay của kinh tế Việt Nam đó là hậu quả từ tăng trưởng kinh tế dựa chủ yếu vào tín dụng, với tốc độ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2007 - 2010 là 35 - 55%/năm, tạo ra bong bóng thị trường BĐS, gây bất ổn thị trường chứng khoán, lạm phát tăng cao đẩy lãi suất cho vay lên dẫn đến nhiều DN lâm vào tình trạng khó khăn, thậm chí phá sản.

Sau một thời gian triển khai chính sách tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt, kinh tế Việt Nam đã có kết quả bước đầu. Tăng trưởng GDP đã ổn định ở mức hơn 5%/năm, xuất khẩu tăng từ 72 tỷ USD lên 114 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng 200% trong 2 năm... Đặc biệt, tính đến tháng 8/2013, đồng tiền Việt Nam trở thành đồng tiền ổn định thứ 3 trong khu vực châu Á.

Theo dự báo của HSBC, tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2014 - 2015 sẽ đạt 5,4 - 5,8%, cao hơn mức 5,2% dự báo của năm 2013. Đáng chú ý, GDP bình quân theo đầu người năm 2014 sẽ vượt qua con số 2.000 USD.  Về lạm phát, HSBC đưa ra con số dự báo khá cao, CPI năm 2014 và 2015 sẽ lần lượt là 8,3 - 8,6%, tăng mạnh so với mức dự báo 6,7% cả năm 2013. Điểm tích cực là ngân hàng này dự báo dự trữ ngoại hối quốc tế của Việt Nam sẽ tăng thêm 5 tỷ USD mỗi năm, đạt 40 tỷ USD vào năm 2015. Tỷ giá hối đoái 2 năm tới sẽ ổn định ở mức 21.500 đồng/USD, lãi suất cơ bản vẫn giữ nguyên ở mức 7%.

Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro, thách thức. Ông Cấn Văn Lực, cố vấn cấp cao Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đánh giá, tăng trưởng GDP năm 2013 dù “ấm hơn” nhưng vẫn ở mức thấp. Lạm phát được kiểm soát nhưng có thể quay trở lại. Năng lực cạnh tranh tăng, nhưng thấp so với khu vực. Nợ xấu giảm, song vẫn còn ở mức cao. Tín dụng tăng trưởng còn ở mức thấp, chủ yếu do sức cầu yếu. Giá vàng còn cách biệt khá lớn so với thế giới. Thị trường BĐS còn rất khó khăn. Tái cơ cấu đầu tư công và DNNN diễn ra chậm chạp, chưa có nhiều chuyển biến và đột phá. Số DN giải thể, ngừng hoạt động tăng cao.

Không nên nới lỏng chính sách tiền tệ

Ông Cấn Văn Lực đưa ra 11 khuyến nghị chính sách đối với Chính phủ. Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục "ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát". Đẩy nhanh thực hiện 3 đột phá là thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, đồng thời Việt Nam cần nhiều giải pháp hơn nữa để tiếp tục hỗ trợ thị trường, DN, xử lý nợ xấu, dứt điểm vấn đề sở hữu chéo.

Một ý kiến đáng chú ý được ông Lực đưa ra là Việt Nam nên sớm cho phép "tăng room nhà đầu tư ngoại" trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Đối với thị trường vàng, Việt Nam cần có chính sách dài hơi hơn như mở sàn vàng quốc gia. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần khẩn trương định hướng, hỗ trợ các DN trong gia nhập TPP (Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương) và AEC (Cộng đồng Kinh tế ASEAN).

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách hành chính về thuế, triển khai thanh toán bù trừ, xử lý dứt điểm nợ đọng xây dựng cơ bản, xem xét giảm VAT cho các mặt hàng, ngành hàng thiết yếu.

Lo ngại có thể sẽ gây ra thêm những bất ổn kinh tế, ảnh hưởng đến mục tiêu kiềm chế lạm phát, TS. Vũ Đình Ánh, chuyên gia kinh tế đưa ra khuyến nghị, Chính phủ không nên thực hiện nới lỏng chính sách tiền tệ, NHNN không nên đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 13 - 15%, mà chỉ nên để ở mức khoảng 10% là hợp lý. Nếu mở rộng tăng trưởng tín dụng, hậu quả của nó có thể còn phức tạp hơn. Việc giảm lãi suất huy động thêm nữa cũng có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực, nên giữ ở mức lãi suất thực dương. Vấn đề quan trọng mà các cơ quan quản lý nhà nước hay các NH có thể làm được là thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Hoài Anh