Ở Tiên Phước, cây tiêu được trồng từ rất sớm, gắn bó với đời sống sản xuất của người dân địa phương, qua đó hình thành nên danh tiếng của một vùng sản xuất tiêu truyền thống. Ngay từ thế kỷ XVII, vào năm 1627, giáo sĩ Alexandre De Rhodes trong quá trình lưu lại Hội An đã ghi chép điều kiện tự nhiên và các sản vật của khu vực, trong đó có đề cập đến hồ tiêu như một loại thổ sản đặc trưng. Điều này cho thấy hồ tiêu đã xuất hiện và được nhận diện từ rất sớm trong hệ thống sản vật của vùng Quảng Nam nói chung và khu vực lân cận Tiên Phước nói riêng.

Bên cạnh đó, theo ký ức của người dân địa phương, Tiên Phước từng là một trong những khu vực tập trung đông đảo cộng đồng người Hoa đến sinh sống và lập nghiệp. Các thương nhân người Hoa đã thiết lập nhiều hiệu buôn như La Hồng Trấn, Trần Gia Lương, Lâm Hồng Nho, Phước Nguyên…, đóng vai trò thu mua và trao đổi hàng hóa. Trong đó, tiêu là một trong những mặt hàng quan trọng được thu mua, góp phần hình thành hoạt động thương mại sôi động và từng bước tạo dựng danh tiếng cho tiêu Tiên Phước trên thị trường khu vực.

Sự hiện diện từ sớm trong các ghi chép lịch sử, cùng với quá trình tham gia vào mạng lưới trao đổi hàng hóa truyền thống, đã góp phần khẳng định tiêu Tiên Phước không chỉ là sản phẩm nông nghiệp thông thường mà còn là sản vật có danh tiếng, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này.

Tiêu Tiên Phước bao gồm ba dạng sản phẩm (tiêu xanh, tiên đen và tiêu trắng). Tiêu xanh có vị cay nhẹ, đường kính hạt từ 3,2-5,2mm, hàm lượng Piperin từ 5,02-5,58%, hàm lượng tinh dầu bay hơi từ 1,89-2,05%. Tiêu đen có vị cay, đường kính hạt từ 3-5mm, hàm lượng Piperin từ 6,82-7,17%, hàm lượng tinh dầu bay hơi từ 2,47-2,67%. Tiêu trắng có vị cay nồng, đường kính hạt từ 3-5mm, hàm lượng Piperin từ 7,32-7,44%, hàm lượng tinh dầu bay hơi từ 2,49-2,61%.   

Hình ảnh hạt tiêu xanh, hạt tiêu đen, hạt tiêu trắng Tiên Phước
Hình ảnh hạt tiêu xanh, hạt tiêu đen, hạt tiêu trắng Tiên Phước

Chất lượng đặc thù của tiêu Tiên Phước là kết quả của sự tương tác chặt chẽ giữa tập quán canh tác truyền thống với điều kiện địa lý đặc thù.

Khác với vùng tiêu Quảng Trị phân bố trên địa hình gò đồi, núi thấp với nền đất nâu đỏ trên đá bazan và đất nâu vàng trên đá bazan, hay vùng tiêu Chư Sê có địa hình bằng phẳng, đất bazan có tầng đất dày, tiêu Tiên Phước được trồng trong điều kiện khó khăn hơn. Vùng tiêu Tiên Phước có địa hình gò đồi dạng bát úp hoặc lượn sóng phân tán, đất trồng tiêu có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, đất lẫn nhiều sỏi, đá, hàm lượng hữu cơ thấp, do đó, hạn chế sinh trưởng của cây tiêu. Trong điều kiện đó, bộ rễ cây tiêu, đặc biệt là giống tiêu sẻ bản địa, có xu hướng phát triển sâu và lan rộng để thích nghi với môi trường đất nghèo dinh dưỡng. Sự hạn chế về điều kiện dinh dưỡng và sinh trưởng này làm giảm khả năng phát triển kích thước hạt, là cơ sở hình thành đặc điểm hạt tiêu Tiên Phước có kích thước nhỏ.

Khu vực Tiên Phước có biên độ nhiệt ngày đêm khoảng 7 - 9°C và số giờ nắng cao trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 8 (khoảng 200 - 255 giờ/tháng). Các yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp và tích lũy chất khô của cây tiêu. Đồng thời, sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm kết hợp với cường độ bức xạ cao thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp các hợp chất thứ cấp, đặc biệt là piperin - hợp chất quyết định vị cay đặc trưng của hạt tiêu. Điều kiện chiếu sáng thuận lợi cũng góp phần giúp quả tiêu phát triển và chín sinh lý đồng đều, qua đó làm tăng hàm lượng tinh dầu bay hơi trong hạt.

Bên cạnh các yếu tố tự nhiên, tập quán canh tác truyền thống của người dân địa phương là yếu tố quan trọng góp phần hình thành chất lượng đặc thù của sản phẩm. Việc sử dụng cây sống làm trụ cho cây tiêu giúp hạn chế tác động bất lợi của nhiệt độ cao. Hàng tiêu được bố trí theo hướng Đông - Tây với mật độ hợp lý nhằm tối ưu hóa khả năng tiếp nhận ánh sáng, đồng thời đảm bảo độ thông thoáng, góp phần hạn chế sâu bệnh và kiểm soát ẩm độ. Việc sử dụng phân chuồng, phân hữu cơ và phân vi sinh được duy trì thường xuyên đã góp phần cải thiện độ phì đất, tăng cường hoạt động sinh học của đất và khả năng phát triển của bộ rễ.

Khu vực địa lý bao gồm các xã, thị trấn: Tiên Lãnh, Tiên Ngọc, Tiên Hiệp, Thị trấn Tiên Kỳ, Tiên Mỹ, Tiên Phong, Tiên Thọ, Tiên Lập, Tiên Lộc, Tiên An, Tiên Cảnh, Tiên Sơn, Tiên Cẩm, Tiên Hà, Tiên Châu thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (tương ứng là xã Lãnh Ngọc, xã Tiên Phước, xã Thạnh Bình, xã Sơn Cẩm Hà thuộc thành phố Đà Nẵng kể từ ngày 1/7/2025) thể hiện cụ thể tại Bản đồ khu vực bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam xác nhận.

PV