“Bữa ăn bán trú của học sinh tại một cơ sở giáo dục ở Bến Quan, Quảng Trị. Việc kiểm soát nguồn thực phẩm đang được đặt ra từ khâu cung ứng đến suất ăn.” Ảnh: Cổng thông tin tỉnh Quảng Trị.
“Bữa ăn bán trú của học sinh tại một cơ sở giáo dục ở Bến Quan, Quảng Trị. Việc. Ảnh: Cổng thông tin tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng đều đang siết chặt quản lý bữa ăn trường học, nhưng câu hỏi quan trọng hơn là phụ huynh có thể biết chính xác thực phẩm trong bữa ăn của con mình đến từ đâu, bằng dữ liệu nào và đến mức nào.

Từ một mô hình đến yêu cầu minh bạch

Tại TP.HCM đang thúc đẩy mô hình “Bếp ăn Tick xanh”, hướng tới kiểm soát thực phẩm từ nguồn cung đến bàn ăn và tăng khả năng truy xuất bằng dữ liệu. Mô hình này đáng chú ý không phải ở tên gọi “tick xanh”, mà ở cách đặt toàn bộ chuỗi cung ứng dưới yêu cầu minh bạch: Nhà cung cấp nào đưa thực phẩm vào bếp, nguyên liệu thuộc lô nào, thời điểm giao nhận ra sao và thông tin nào phụ huynh có thể kiểm tra.

Ở tầng luật, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã đặt nền tảng cho việc kiểm soát nguồn gốc: Khoản 28 Điều 2 xác định nội hàm truy xuất nguồn gốc thực phẩm; khoản 2 Điều 8 yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ và lưu hồ sơ về thực phẩm; khoản 1 Điều 30 yêu cầu thực phẩm, nguyên liệu dùng trong chế biến phải rõ nguồn gốc, bảo đảm an toàn và lưu mẫu thức ăn. Trên nền đó, Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 14/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các tỉnh, thành phố lập danh sách, kiểm tra, đánh giá năng lực cơ sở cung cấp thực phẩm, suất ăn cho trường học; đồng thời số hóa, kết nối và công khai mạng lưới, đơn vị cung cấp thực phẩm an toàn, nguồn gốc xuất xứ, thông tin chất lượng và giá cả.

Chỉ thị cũng yêu cầu cơ sở giáo dục công khai hằng ngày với phụ huynh thông tin về đơn vị cung cấp suất ăn, nguyên liệu, hình ảnh thực phẩm, hóa đơn nhập hàng, thực đơn và hình ảnh khay ăn thực tế. Ban đại diện cha mẹ học sinh được tạo điều kiện tham gia giám sát nguồn thực phẩm và quá trình chia suất ăn.

Ngày 13/9/2026, Công điện số 64/CĐ-TTg tiếp tục yêu cầu tăng cường bảo đảm an toàn, chất lượng bữa ăn nội trú, bán trú, trong đó nhấn mạnh việc kiểm soát nguồn gốc, chất lượng nguyên liệu, điều kiện chế biến, bảo quản, vận chuyển, giao nhận và lưu mẫu thức ăn. Như vậy, câu hỏi hiện nay không chỉ là trường học có hợp đồng, hóa đơn hay sổ kiểm thực hay không, mà là các dữ liệu đó có đủ để truy ngược một bữa ăn cụ thể hay chưa.

Các cơ sở giáo dục tại phường An Hải được hướng dẫn kiểm thực ba bước và truy xuất nguồn gốc thực phẩm trước năm học 2026–2027. Ảnh: Cổng thông tin TP Đà Nẵng.
Các cơ sở giáo dục tại phường An Hải được hướng dẫn kiểm thực ba bước và truy xuất nguồn gốc thực phẩm trước năm học 2026–2027. Ảnh: Cổng thông tin TP Đà Nẵng.

Ba địa phương, những bước đi khác nhau

Tại tỉnh Quảng Trị, từ ngày 15/9 đến 2/10/2026, ngành Y tế tổ chức rà soát điều kiện an toàn thực phẩm tại các cơ sở giáo dục có bếp ăn bán trú trên toàn tỉnh. Trọng tâm kiểm tra là điều kiện bếp, tính pháp lý của nhà cung cấp, khả năng chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, quan hệ hợp đồng, kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn.

Đợt rà soát bao phủ toàn bộ bếp ăn tập thể và căng tin trong các cơ sở giáo dục. Song song với hoạt động kiểm tra của cơ quan chức năng, một số trường đã công khai nhà cung cấp, nguồn gốc thực phẩm, thực đơn và mời đại diện cha mẹ học sinh tham gia giám sát đột xuất bữa ăn bán trú.

Những bước này cho thấy Quảng Trị đã tăng cường kiểm soát nguồn thực phẩm và mở thêm kênh giám sát của phụ huynh. Tuy nhiên, một câu hỏi vẫn cần được kiểm chứng trong thực tế: Từ suất ăn của một ngày cụ thể, phụ huynh có thể lần ngược tới phiếu giao nhận, lô hàng và nguồn sản xuất ban đầu hay chưa?

Tại TP.Huế, việc kiểm soát được đặt xuyên suốt từ khâu lựa chọn nhà cung cấp đến tiếp nhận nguyên liệu, vận chuyển, bảo quản, chế biến và chia suất. Thành phố đặt mục tiêu trong tháng 10/2026 rà soát toàn bộ bếp ăn, căng tin, cơ sở tổ chức bữa ăn nội trú, bán trú và toàn bộ tổ chức, cá nhân cung ứng thực phẩm, nguyên liệu, suất ăn cho các cơ sở giáo dục.

Các trường tại Huế đồng thời phải đưa ra công khai nhiều thông tin của bữa ăn, gồm thực đơn, định lượng, đơn giá, số suất, hình ảnh nguyên liệu và khay ăn thực tế; chứng từ đầu vào phải được đối chiếu hằng ngày với số suất và khẩu phần phục vụ. Đây là bước tiến rõ về minh bạch. Tuy nhiên, công khai nhiều thông tin vẫn chưa đồng nghĩa với việc phụ huynh có thể tự truy xuất theo từng lô hàng. Muốn xác định mức độ thực chất, cần kiểm tra khả năng nối thông tin được công khai với chứng từ và nguồn nguyên liệu của chính bữa ăn đó.

Tại TP.Đà Nẵng có lợi thế khác khi hệ thống truy xuất nguồn gốc thực phẩm đã được xây dựng và đưa vào sử dụng từ những năm trước. Thành phố đã triển khai phần mềm truy xuất đối với một số chuỗi thịt, trứng; cấp tài khoản, mã QR định danh cơ sở và hướng dẫn vận hành hệ thống qua ứng dụng “Danang City Food”. Trong lĩnh vực trường học, hoạt động tập huấn, hướng dẫn truy xuất nguồn gốc tiếp tục được thực hiện trong năm học 2026–2027.

Thành phố cũng yêu cầu tăng cường ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc, quản lý đơn vị cung cấp; việc lựa chọn đơn vị cung cấp suất ăn phải công khai, minh bạch, trong đó năng lực truy xuất nguồn gốc là một tiêu chí quan trọng. Các cơ sở giáo dục phải công khai thực đơn, đơn vị cung cấp và nguồn gốc thực phẩm để cha mẹ học sinh tham gia giám sát.

Vì vậy, vấn đề cần làm rõ tại TP.Đà Nẵng không còn là có công cụ truy xuất hay không, mà là công cụ ấy đang được sử dụng thực chất đến mức nào trong bếp ăn trường học, bao nhiêu nhà cung cấp đã kết nối dữ liệu và phụ huynh được tiếp cận đến lớp thông tin nào.

Đoàn giám sát Ban Văn hóa – Xã hội HĐND phường Tân Thuận, TP. HCM, kiểm tra thực tế công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trong tổ chức bữa ăn bán trú tại trường học. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Hội đồng nhân dân TP.HCM.
Đoàn giám sát Ban Văn hóa – Xã hội HĐND phường Tân Thuận, TP. HCM, kiểm tra thực tế công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trong tổ chức bữa ăn bán trú tại trường học. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Hội đồng nhân dân TP.HCM.

Khoảng cách giữa “có nguồn gốc” và “truy xuất được”

Một bộ hồ sơ đầy đủ hợp đồng, hóa đơn, giấy tờ của nhà cung cấp có thể cho thấy nhà trường đã thực hiện thủ tục kiểm soát đầu vào. Nhưng “có nguồn gốc” và “truy xuất được” không hoàn toàn giống nhau.

Truy xuất chỉ có ý nghĩa khi dữ liệu cho phép lần theo một sản phẩm hoặc lô thực phẩm qua các mắt xích liên quan. Nếu phát hiện một lô thịt, rau hoặc trứng có vấn đề, hệ thống cần xác định được lô nào, được giao khi nào, do ai cung cấp, đã đi tới những trường nào và đã được sử dụng trong những bữa ăn nào. Ở chiều ngược lại, từ một suất ăn đã phục vụ cho học sinh, cũng phải có khả năng lần về nhà cung cấp, lô hàng và nguồn nguyên liệu tương ứng.

Bởi vậy, cũng cần phân biệt giữa ba cấp độ: Có chứng từ; có mã QR; và có một chuỗi dữ liệu truy xuất đầy đủ, chính xác, có thể kiểm chứng. Mã QR chỉ là công cụ mở dữ liệu. Nếu dữ liệu phía sau thiếu, không cập nhật hoặc không nối được các mắt xích, mã QR tự nó không bảo đảm khả năng truy xuất.

Từ ngày 1/1/2027, Nghị định số 372/2026/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa có hiệu lực, tạo thêm khuôn khổ pháp lý chung cho hoạt động truy xuất nguồn gốc. Đây không phải là quy định chuyên biệt về bữa ăn trường học, nhưng là bối cảnh pháp lý mới để việc chuẩn hóa và kết nối dữ liệu truy xuất được đặt ra rõ hơn, thay vì chỉ dừng ở các hồ sơ rời rạc.

Hãy thử truy một khay cơm

Muốn biết hệ thống tại Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng đang vận hành đến đâu, có thể thực hiện một phép thử rất cụ thể: Chọn ngẫu nhiên một trường, một bữa ăn và một vài nguyên liệu chính trong khay cơm của học sinh.

Từ khay ăn, thử lần ngược đến nguyên liệu, phiếu giao nhận, hóa đơn hoặc chứng từ, nhà cung cấp, lô hàng và cơ sở sản xuất. Chuỗi dừng ở đâu thì khả năng truy xuất thực tế đang dừng ở đó.

Quan trọng hơn, phép thử cần được thực hiện thêm từ vị trí của một phụ huynh bình thường. Nếu phụ huynh có thể tiếp cận nhanh những thông tin đã được yêu cầu công khai, cơ chế minh bạch đang phát huy tác dụng. Nếu thông tin chỉ có thể tìm thấy sau khi mở nhiều bộ hồ sơ hoặc chỉ cán bộ quản lý mới tiếp cận được, vẫn còn khoảng cách giữa “có hồ sơ” và “truy xuất được”.

Quảng Trị, Huế hay Đà Nẵng không nhất thiết phải sao chép một mô hình có tên gọi cụ thể. Điều quan trọng hơn là hình thành được chuỗi trách nhiệm đủ minh bạch để bất kỳ lúc nào phụ huynh đặt câu hỏi: “Hôm nay con tôi ăn gì và thực phẩm ấy đến từ đâu?”, câu trả lời có thể được đưa ra nhanh chóng, cụ thể và kiểm chứng được.

Đình Lương