Quang cảnh hội nghị.
Quang cảnh hội nghị.

Khảo sát thực trạng bạo lực học đường ở 400 học sinh trung học cơ sở cho thấy, bạo lực học đường đang diễn ra ở mức độ báo động. Có tới 61% học sinh thừa nhận từng là nạn nhân của bạo lực học đường trong 12 tháng qua. Tỷ lệ học sinh tự nhận từng gây ra hành vi bạo lực với người khác là 30,8%. Đặc biệt, tỷ lệ học sinh từng chứng kiến bạo lực học đường lên tới 70,8%. Điều này cho thấy, bạo lực học đường không phải là sự việc đơn lẻ, kín đáo mà diễn ra khá công khai trong môi trường học đường hoặc không gian mạng. Nam sinh có xu hướng tham gia vào bạo lực học đường cao hơn nữ sinh ở cả vai trò nạn nhân và người gây ra bạo lực, đồng thời học sinh ở khu vực thành thị có tỷ lệ liên quan đến bạo lực cao hơn học sinh ở khu vực nông thôn. Nghiên cứu ghi nhận sự chuyển dịch rõ rệt về hình thái bạo lực học đường, từ các tổn thương vật lý sang các dạng thức vô hình. Trong đó, bạo lực lời nói là hình thức phổ biến nhất, chiếm 52,5%; bạo lực xã hội chiếm 37,3%, bạo lực thể chất chiếm 33,5% và bạo lực điện tử chiếm 23,0%. Các lý do chính dẫn đến hành vi bạo lực học đường là “Xả cơn tức giận” và “Trả thù”, cả hai cùng chiếm tỷ lệ là 15,9%, lý do “Cho vui” chiếm 11,0%. Có một tỷ lệ lớn học sinh thực hiện hành vi bạo lực dù không biết lý do, chiếm 17,9%. Điểm đáng lưu ý là bạo lực thường xảy ra ở những điểm mù về giám sát. Có tới 63,9% vụ việc xảy ra trên đường đi học/về nhà, 41% xảy ra trên mạng xã hội. Ngay trong khuôn viên nhà trường, các khu vực vắng vẻ như sân trường/hành lang (24,6%) và nhà vệ sinh (21,3%) là những điểm nóng. Các vụ việc thường xảy ra nhiều nhất vào thời điểm tan học (49,2%). Khi bị bạo lực học đường, có tới 37,7% học sinh chọn cách im lặng, nhẫn nhịn khi bị bắt nạt và 32,8% chọn cách chống trả lại. Chỉ có 11,9% học sinh báo cáo với giáo viên và 29,9% chia sẻ với gia đình. Khi cần tâm sự, học sinh tin tưởng nhất vào bạn bè, chiếm 34,8%. Có một nghịch lý là 86,6% giáo viên vẫn đánh giá môi trường học đường an toàn hoặc rất an toàn. Để xử lý vi phạm, giáo viên vẫn chủ yếu dùng các biện pháp hành chính như nhắc nhở (80,8%), gọi phụ huynh (53,4%) trong khi các biện pháp hỗ trợ chuyên sâu như tư vấn tâm lý chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn (7,1%). Nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường xuất phát từ cá nhân, bạn bè và gia đình. 

Từ thực trạng trên, đề tài đề xuất các nhóm giải pháp phòng chống bạo lực học đường trong các trường trung học cơ sở, gồm: Nhóm giải pháp đối với học sinh (thiết lập và vận hành mạng lưới nhóm bạn đồng hành; sàng lọc sức khỏe tâm thần và giáo dục kiểm soát cảm xúc; giáo dục kỹ năng phòng vệ và ứng xử theo đặc thù giới); Nhóm giải pháp đối với gia đình (tổ chức chuỗi hội thảo chuyên đề Gia đình không bạo lực; chiến dịch Lắng nghe để bảo vệ; tập huấn Kỷ luật tích cực tại gia đình); Nhóm giải pháp đối với giáo viên và nhà trường (kiểm soát điểm mù dựa trên bản đồ rủi ro; chuẩn hóa Quy trình phản ứng chuẩn với bạo lực; tập huấn chuyên sâu kỷ luật tích cực trong nhà trường; kiểm soát hành vi nguy cơ đồng mắc; kiện toàn Tổ tư vấn Tâm lý và Công tác xã hội học đường); Nhóm giải pháp đối với cộng đồng (triển khai mô hình Cung đường đến trường an toàn; quản lý môi trường xã hội quanh trường học; thiết lập cơ chế phản ứng nhanh liên ngành; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành: nhà trường - y tế - công an). 

Trong khuôn khổ đề tài, nhóm nghiên cứu cũng đề xuất mô hình thử nghiệm phòng chống bạo lực học đường trong các trường trung học cơ sở theo mô hình “Nhóm bạn đồng hành” theo 3 vòng: Vòng 1 - Nhóm hạt nhân (Chịu trách nhiệm phát hiện vấn đề và thực hiện sơ cứu ban đầu); Vòng 2 - Mạng lưới Mentor (Cung cấp đánh giá và xử lý ở cấp độ chuyên sâu hơn); Vòng 3 - Hệ sinh thái hỗ trợ (Giám sát toàn bộ quá trình và thúc đẩy thay đổi văn hóa tích cực). Nhiệm vụ cũng tiến hành tuyên truyền các nội dung đã triển khai thông qua các bài báo trên tạp chí uy tín, các trang thông tin điện tử và tập huấn cho giáo viên, phụ huynh và học sinh tại Trường Trung học cơ sở Gia Lương cùng một số trường trung học cơ sở lân cận trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Kết quả nghiên cứu của đề tài được Hội đồng thống nhất nghiệm thu trên cơ sở bổ sung, chỉnh sửa các nội dung: tại phần đặt vấn đề, bổ sung hệ lụy của bạo lực học đường; phần tổng quan các vấn đề nghiên cứu, bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực học đường và mô hình phòng chống bạo lực học đường; phần nội dung nghiên cứu, làm rõ thực trạng nghiên cứu gắn với địa bàn, không gian nghiên cứu (ở thành phố hay nông thôn). Đồng thời, nghiên cứu cũng cần đưa ra những kiến nghị để phòng ngừa bạo lực học đường đạt hiệu quả cao và bền vững.

Quỳnh Nga (t/h)