Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký Chỉ thị 05/CT-TTg ngày 13/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính; đăng ký đất đai; lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Chỉ thị nêu: Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện.

Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an, các bộ, ngành và các địa phương nỗ lực triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, đặc biệt là Chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai đã tổ chức rà soát gần 62 triệu thửa đất, trong đó có trên 24 triệu thửa đất và nhà ở đã đảm bảo "đúng-đủ-sạch-sống-thống nhất-dùng chung," đây là một trong những kết quả rất đáng khích lệ.
Tuy nhiên, tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai còn chậm, chưa được đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hóa, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; chậm đưa vào vận hành phục vụ công tác quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính về đất đai cho người dân, doanh nghiệp; chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ cải cách hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số trong tình hình mới.
Nguyên nhân chính của hạn chế này là do: một số địa phương chưa coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách cần tập trung thực hiện, việc quan tâm chỉ đạo, đầu tư nguồn lực còn hạn chế; hồ sơ, tài liệu để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai được hình thành qua nhiều thời kỳ, không đồng bộ; dữ liệu lớn, phức tạp và thường xuyên biến động, không được cập nhật kịp thời; phải đo đạc lập bản đồ địa chính, chuẩn hóa lại hồ sơ, tài liệu để đảm bảo tính thống nhất giữa hồ sơ, tài liệu với thực địa; trình độ chuyên môn, kỹ thuật cán bộ xây dựng, quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai còn hạn chế; trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin, mức độ về an toàn, bảo mật thông tin chưa đáp ứng yêu cầu gây khó khăn cho việc xây dựng, vận hành, đồng bộ, kết nối, chia sẻ với các hệ thống thông tin khác.
Thu Trang (t/h)

























