Nghịch lý giữa tăng trưởng và sự phụ thuộc

Tại Hội thảo chuyên đề về động lực nội địa hóa ngành dệt may vừa diễn ra tại Ninh Bình, ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam nhận định, trong 5 năm qua, dòng vốn đầu tư đã có sự dịch chuyển tích cực sang khâu sản xuất nguyên phụ liệu. Dù nguyên phụ liệu hiện chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, nhưng thực tế dệt may Việt Nam vẫn phụ thuộc nặng nề vào vải và hóa chất nhập khẩu.

Sự thiếu chủ động này khiến các doanh nghiệp rơi vào thế bị động trước biến động tỷ giá, chi phí logistics và rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng. Nguy hiểm hơn, việc thiếu hụt nguồn cung trong nước đang trở thành "điểm nghẽn" khiến sản phẩm dệt may khó đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP hay EVFTA. Nếu không sớm tự chủ được nguyên liệu, khả năng thích ứng với mô hình mua hàng toàn cầu trong giai đoạn 2026 - 2030 sẽ trở nên vô cùng khó khăn.

Phát triển nguồn cung thiếu hụt là mục tiêu nhiều năm qua của dệt may Việt Nam, nhưng để hút được dòng vốn đầu tư, ngành vẫn phải đối mặt nhiều khó khăn
Phát triển nguồn cung thiếu hụt là mục tiêu nhiều năm qua của dệt may Việt Nam, nhưng để hút được dòng vốn đầu tư, ngành vẫn phải đối mặt nhiều khó khăn

Dệt nhuộm và hoàn tất được coi là “mắt xích” then chốt để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, nhưng đây lại là khâu vấp phải nhiều rào cản nhất. Theo ông Vũ Đức Giang, có ba trở ngại lớn đang hiện hữu. Thứ nhất là tâm lý e ngại ô nhiễm môi trường tại các địa phương, dẫn đến việc dè dặt khi tiếp nhận các dự án dệt nhuộm dù công nghệ xử lý nước thải hiện nay đã rất tiên định. Thứ hai là sự thiếu hụt quy hoạch quỹ đất tập trung; ngoại trừ một số khu công nghiệp tại Ninh Bình hay Tây Ninh, khu vực miền Trung hầu như chưa có không gian dành riêng cho ngành này. Cuối cùng là sự thiếu hụt một chiến lược dài hạn tầm quốc gia để phát triển ngành từ gốc thay vì chỉ tập trung vào phần ngọn là cắt may gia công.

Bên cạnh đó, các nhãn hàng quốc tế đang thay đổi chính sách mua hàng, chuyển sang mô hình FOB buộc nhà sản xuất Việt Nam phải tự chủ nguồn vải. Đồng thời, tiêu chuẩn xanh từ thị trường EU yêu cầu vải không chỉ đạt chất lượng mà phải làm từ nguyên liệu tái chế và giảm phát thải, đặt ra thách thức sống còn về công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.

Chính sách cần đi đôi với quyết tâm thực thi

Trước thực trạng trên, bà Trần Thu Hương - đại diện Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, khung pháp lý và chính sách hỗ trợ đã được Chính phủ xây dựng khá đồng bộ. Chiến lược phát triển ngành đến năm 2030 đã định hướng rõ việc xây dựng các khu công nghiệp chuyên ngành theo chuỗi tại Ninh Bình, Hưng Yên, Thanh Hóa hay Quảng Ngãi. Đặc biệt, Nghị định số 205/2025/NĐ-CP mới ban hành đã đưa ra các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp rất hấp dẫn cho dự án công nghiệp hỗ trợ, bao gồm miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo.

Tuy nhiên, các chuyên gia khẳng định chính sách tốt là chưa đủ. Để biến những con số trên văn bản thành động lực thực tế, cần sự thay đổi tư duy từ phía các địa phương trong việc nhìn nhận ngành dệt nhuộm dưới góc độ chuỗi giá trị thay vì chỉ là rủi ro môi trường. Doanh nghiệp cũng cần chủ động tái cấu trúc, đầu tư mạnh vào tự động hóa và chuyển đổi xanh để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thế giới.

Dù kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2026 đạt 6,26 tỷ USD, giảm nhẹ do kỳ nghỉ Tết kéo dài, nhưng triển vọng dài hạn của ngành dệt may vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào việc giải quyết bài toán nguồn cung thiếu hụt. Khi chuỗi cung ứng được rút ngắn nhờ sản xuất nguyên liệu nội địa, dệt may Việt Nam sẽ không chỉ kiểm soát tốt chi phí mà còn chính thức bước từ vai trò gia công sang làm chủ giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tâm An