Phân định rõ từng trường hợp để áp dụng chính sách thuế
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, việc hàng hóa bị khách hàng nước ngoài trả lại không phải là tình huống hiếm gặp. Nguyên nhân có thể xuất phát từ lỗi kỹ thuật, không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, cần sửa chữa, bảo hành hoặc tái chế trước khi tiếp tục xuất khẩu.
Tuy nhiên, việc hàng hóa quay trở lại Việt Nam không đồng nghĩa với việc đương nhiên được miễn thuế giá trị gia tăng.
Nhằm thống nhất cách áp dụng chính sách, Cục Hải quan vừa ban hành văn bản hướng dẫn các chi cục hải quan khu vực về việc xử lý thuế VAT đối với hàng xuất khẩu bị nước ngoài trả lại, trên cơ sở đối chiếu quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Hải quan, Luật Thương mại, Luật Quản lý ngoại thương và các nghị định hướng dẫn.

Theo Cục Hải quan, yếu tố quyết định nằm ở hình thức tái nhập của hàng hóa.
Nếu hàng hóa được tái nhập theo đúng loại hình tạm nhập - tái xuất nhằm phục vụ sửa chữa, bảo hành, tái chế hoặc các mục đích được pháp luật cho phép, đồng thời đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật về hải quan, thương mại và quản lý ngoại thương thì thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo khoản 20 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 và khoản 12 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP.
Ngược lại, nếu hàng hóa tái nhập nhưng không thuộc trường hợp tạm nhập - tái xuất theo quy định thì doanh nghiệp vẫn phải kê khai, nộp thuế VAT theo quy định hiện hành.
Đối với nhóm hàng là sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, việc xác định nghĩa vụ thuế tiếp tục thực hiện theo các quy định riêng tại Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung và Nghị định số 181/2025/NĐ-CP.
Hướng tới áp dụng thống nhất, hạn chế vướng mắc cho doanh nghiệp
Theo đánh giá của cơ quan hải quan, việc ban hành hướng dẫn lần này nhằm bảo đảm cách hiểu và cách áp dụng thống nhất trong toàn ngành, tránh tình trạng mỗi địa phương thực hiện theo một cách khác nhau khi xử lý hàng xuất khẩu bị trả lại.
Các quy định hiện hành cũng làm rõ phạm vi của loại hình tạm nhập - tái xuất. Theo Luật Thương mại năm 2005 và Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, doanh nghiệp được tạm nhập hàng hóa vào Việt Nam theo hợp đồng với đối tác nước ngoài để phục vụ các mục đích như bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa, thuê, mượn hoặc các mục đích hợp pháp khác trong một thời gian nhất định trước khi tái xuất chính lô hàng đó ra nước ngoài.
Trong khi đó, Luật Hải quan và các nghị định hướng dẫn cũng quy định cụ thể các trường hợp được áp dụng loại hình tạm nhập - tái xuất, từ máy móc, thiết bị, phương tiện thi công, hàng hóa phục vụ hội chợ triển lãm cho đến các loại hàng hóa khác theo quy định của pháp luật.
Việc xác định đúng bản chất của từng loại hình nhập khẩu không chỉ ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế mà còn quyết định quy trình thủ tục hải quan mà doanh nghiệp phải thực hiện.
Cục Hải quan yêu cầu các chi cục hải quan khu vực nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật về hải quan và thuế giá trị gia tăng để áp dụng thống nhất. Đối với những trường hợp phát sinh vướng mắc vượt thẩm quyền, các đơn vị cần tổng hợp, báo cáo Cục Hải quan để được hướng dẫn, bảo đảm việc xử lý đúng quy định và hạn chế phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện.
Với hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng đa dạng, việc làm rõ tiêu chí áp dụng chính sách thuế đối với hàng hóa bị trả lại được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch tài chính, đồng thời tạo sự minh bạch và thống nhất trong thực thi chính sách thuế tại các cửa khẩu.
Minh Thành (t/h)






















