Quang cảnh Lễ Công bố Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025 (Trong ảnh Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên, phát biểu)
Quang cảnh Lễ Công bố Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025 (Trong ảnh Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên, phát biểu)

Mô hình tăng trưởng cũ đã chạm trần giới hạn…

Theo Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025, ĐBSCL hiện vẫn giữ vai trò chiến lược trong an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên, sản lượng thô, lao động giản đơn và hộ sản xuất nhỏ đã tới giới hạn. Sau khi Long An tách khỏi ĐBSCL, những hạn chế về công nghiệp, FDI, năng suất và thiếu vắng cực tăng trưởng càng hiện rõ. Vì vậy, xác định chủ thể nào đóng vai trò chủ lực trong việc tái cấu trúc kinh tế của Vùng hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, là điều hết sức cần thiết.

Kinh tế ĐBSCL vẫn tăng trưởng ổn định. Năm 2025, GRDP toàn vùng tăng khoảng 7,24%, đóng góp 8,39% vào tăng trưởng chung cả nước và chiếm 12,2% GDP quốc gia. Đây là kết quả tích cực trong bối cảnh kinh tế Vùng vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông - thủy sản. Về kết quả tăng trưởng theo ngành, nông - lâm - thủy sản vẫn duy trì tăng trưởng ổn định qua các năm, phản ánh vai trò trụ cột trong việc đảm bảo an ninh lương thực và duy trì kim ngạch xuất khẩu. Khu vực công nghiệp và dịch vụ cho thấy xu hướng phục hồi mạnh mẽ sau giai đoạn suy giảm do ảnh hưởng của đại dịch. Đến thời điểm hiện tại, khu vực này đang khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng chính của ĐBSCL, với mức tăng trưởng lần lượt đạt 9,6% và 8,8% trong năm 2025.

ĐBSCL duy trì thặng dư thương mại hàng hóa ở mức cao và đóng góp đáng kể vào cán cân thương mại chung của cả nước. Ba nhóm hàng thủy sản, rau quả và gạo – những mặt hàng chủ lực của ĐBSCL- tiếp tục giữ tỷ trọng khoảng 5%–6% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Khác với những vùng phụ thuộc mạnh vào nguyên liệu công nghiệp nhập khẩu, ĐBSCL liên tục xuất siêu nhờ giá trị nội tại của các mặt hàng nông sản. Giai đoạn 2015–2024, kim ngạch xuất khẩu của vùng ĐBSCL tăng từ 8,5 tỷ USD lên 20,3 tỷ USD, bình quân 10,2%/năm. Cùng thời gian đó, kim ngạch nhập khẩu ĐBSCL tăng từ 3,4 tỷ USD lên 8,6 tỷ USD, với tốc độ bình quân 11%/năm; thặng dư thương mại của vùng tăng từ 5,2 tỷ USD năm 2015 lên 11,8 tỷ USD năm 2024, bình quân 9,6%.

.

PGS.TS Hồ Sĩ Hùng Chủ tịch VCCI phát biểu tại Lễ công bố Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025
PGS.TS Hồ Sĩ Hùng Chủ tịch VCCI phát biểu tại Lễ công bố Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025

Phát biểu tại Lễ Công bố Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025, PGS. TS Hồ Sĩ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nhận định: “ĐBSCL đang đối diện với một nghịch lý phát triển ngày càng sâu sắc. Vùng đóng góp hơn 50% sản lượng lúa, 65% thủy sản nuôi trồng, 70% trái cây và trên 90% gạo xuất khẩu của cả nước. Đây cũng là nơi sinh sống của 18% dân số và mang về 58% thặng dư ngoại tệ cho dự trữ quốc gia. Nhưng đồng thời, đây cũng là vùng có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước kể từ năm 2023, năng suất lao động chỉ khoảng 133 triệu đồng trên một lao động mỗi năm, thuộc nhóm thấp nhất, thu hút FDI năm 2025 chưa tới 1 tỷ USD, chỉ chiếm 2,45% cả nước. Sau khi điều chỉnh địa giới, không còn Long An, những hạn chế cố hữu về công nghiệp, FDI và năng lực doanh nghiệp càng bộc lộ rõ nét. Mô hình tăng trưởng cũ đã chạm trần giới hạn…”

Phải chuyển từ phát triển doanh nghiệp theo số lượng sang tái thiết hệ sinh thái doanh nghiệp

Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025, cho rằng: Vấn đề cốt lõi của ĐBSCL không phải là thiếu lợi thế, mà là thiếu một khu vực doanh nghiệp đủ mạnh để chuyển hóa các lợi thế đó thành năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững. Từ năm 2023, ĐBSCL trở thành vùng có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước. Nếu như vào năm 2000, ĐBSCL từng chiếm khoảng 22% tổng số doanh nghiệp cả nước, thì đến năm 2024 tỷ lệ này chỉ còn khoảng 7%. Những con số này cho thấy khu vực doanh nghiệp ở ĐBSCL không chỉ ít mà còn thiếu động lực tái tạo, thiếu sự nâng cấp về quy mô, và thiếu doanh nghiệp đầu chuỗi đủ năng lực dẫn dắt.

Toàn cảnh doanh nghiệp cho thấy ĐBSCL đã mất dần vị thế doanh nghiệp trong bản đồ kinh tế quốc gia. Trong giai đoạn 2015–2025, ĐBSCL có tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp thấp nhất cả nước. Chất lượng doanh nghiệp cũng đáng lo ngại. Phân loại theo quy mô vốn, đến năm 2024, doanh nghiệp siêu nhỏ ở ĐBSCL chiếm tới 42%, mức cao nhất cả nước; tỷ trọng doanh nghiệp lớn cũng thuộc nhóm thấp nhất cả nước. Việc không còn Long An làm số việc làm mới hằng năm ở ĐBSCL giảm khoảng 30%.

Mặc dù ĐBSCL có nhiều lợi thế tiềm năng nông nghiệp nhưng không thể tạo đột phá phát triển kinh tế bền vững (Trong ảnh nông dân TP. Cần Thơ thu hoạch lúa bằng măý gặt đập liên hợp).
Mặc dù ĐBSCL có nhiều lợi thế tiềm năng nông nghiệp nhưng không thể tạo đột phá phát triển kinh tế bền vững (Trong ảnh nông dân TP. Cần Thơ thu hoạch lúa bằng măý gặt đập liên hợp).

Đến năm 2025, số việc làm mới của Vùng chỉ bằng khoảng 1/4 Đông Nam bộ và 1/5 Đồng bằng sông Hồng. Cơ cấu ngành cho thấy một nghịch lý của ĐBSCL là tuy mạnh về nông nghiệp nhưng thiếu doanh nghiệp đủ mạnh trong chính lĩnh vực này. Số doanh nghiệp nông nghiệp của Vùng chỉ chiếm chưa tới 5%, trong khi nông nghiệp đóng góp hơn 30% GRDP toàn vùng. Khu vực dịch vụ chiếm khoảng 68% số doanh nghiệp nhưng đóng góp chưa tới 40% GRDP. Các ngành nền tảng như giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, vận tải – kho bãi, thông tin – truyền thông và logistics đều yếu, làm hệ sinh thái doanh nghiệp Vùng thiếu các d ịch vụ hỗ trợ cần thiết để đi lên chế biến sâu, tiêu chuẩn cao và thị trường toàn cầu.

Doanh nghiệp tư nhân là lực lượng trung tâm nhưng đang bị kẹt trong hiện tượng “missing middle”. Năm 2000, doanh nghiệp tư nhân ĐBSCL từng chiếm gần 25% tổng số cả nước, nhưng suy giảm nhanh từ giai đoạn 2000–2005. Đến năm 2024, nếu phân theo quy mô lao động, doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 87,8% tổng số doanh nghiệp Vùng, trong khi doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn chỉ lần lượt chiếm 9,5%, 1,8% và 0,9%. Vấn đề của ĐBSCL là thiếu năng lực tích lũy, thiếu tầng doanh nghiệp vừa, thiếu doanh nghiệp đầu chuỗi và thiếu cơ chế giúp doanh nghiệp nhỏ chuyển bậc quy mô.

FDI tại ĐBSCL là một khoảng trống lớn trong chiến lược nâng cấp doanh nghiệp. Đến năm 2024, toàn Vùng chỉ có 374 doanh nghiệp FDI đang hoạt động, với mật độ 2,4 FDI trên 100.000 dân, thấp nhất cả nước. Tuy nhiên, khu vực FDI lại tạo ra khoảng 310.000 việc làm, và sử dụng trung bình khoảng 829 lao động. Điều này cho thấy các FDI chủ yếu thâm dụng lao động, trong khi tỷ lệ vốn trên lao động thấp và liên kết với các ngành hỗ trợ yếu. ĐBSCL vì vậy không chỉ cần thêm FDI, mà cần FDI có liên kết, công nghệ, tiêu chuẩn quản trị và khả năng kéo doanh nghiệp bản địa vào chuỗi. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại ĐBSCL không cần nhiều hơn về số lượng, mà cần được tái định vị thành nhà đầu tư nền tảng của Vùng. DNNN hiện vẫn phân tán, thiên về công ích truyền thống. Theo tinh thần Nghị quyết 79/NQ-TW về phát triển kinh tế nhà nước, DNNN ở ĐBSCL cần đóng vai trò chiếm lĩnh các “cao điểm chiến lược” như logistics lạnh, năng lượng, môi trường, công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến sâu, hạ tầng số, kiểm định và dữ liệu chuỗi giá trị nông – thủy sản, thay vì cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân.

Thông điệp cốt lõi của Báo cáo là phải chuyển từ phát triển doanh nghiệp theo số lượng sang tái thiết hệ sinh thái doanh nghiệp Vùng. Doanh nghiệp tư nhân nội địa là nền tảng chính nhưng còn nhỏ và mỏng; FDI còn ít, thâm dụng lao động và mức độ lan tỏa thấp; DNNN chưa làm đúng vai trò mở đường trong hạ tầng nền tảng như logistics lạnh, năng lượng, nước – môi trường, công nghệ sinh học, hạ tầng số và kiểm định chất lượng. Nếu không tái cấu trúc ba lực lượng này, ĐBSCL sẽ tiếp tục mắc kẹt trong vòng xoáy đi xuống…

Tầm nhìn chiến lược đến năm 2030 định hướng chuyển đổi toàn diện ĐBSCL từ vùng cung ứng nguyên liệu thô sang hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên các nguyên tắc phát triển thuận thiên và thích ứng khí hậu. Sự thịnh vượng của Vùng trong giai đoạn tới sẽ được định đoạt bởi năng lực của cộng đồng doanh nghiệp thông qua các sản phẩm có tiêu chuẩn, thương hiệu, dữ liệu, công nghệ, logistics, giá trị gia tăng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Làm được điều này, ĐBSCL có thể thoát khỏi vị thế cung ứng nguyên liệu thuần túy để trở thành một nền kinh tế nông nghiệp, một không gian tăng trưởng mới của Việt Nam. Đến năm 2030, đột phá của ĐBSCL sẽ không chỉ nằm ở những tuyến cao tốc, cảng biển hay khu công nghiệp mới, mà ở việc hình thành được một cộng đồng doanh nghiệp đủ sức biến tài nguyên bản địa thành giá trị gia tăng, biến thách thức khí hậu thành năng lực thích ứng, và biến bản sắc Vùng thành lợi thế cạnh tranh bền vững.

                                                                                                                       Huỳnh Biển