Giá cao su trong nước: Thị trường ổn định.

Tại Công ty Cao su Mang Yang: 

Giá thu mua mủ nước: 

Loại 1 ở mức 384 đồng/độ/TSC/kg; Loại 2 ở mức 379 đồng/độ/TSC/kg.

Mủ đông tạp: 

Loại 1 ở mức 393 đồng/DRC/kg; Loại 2 ở mức 345 đồng/DRC/kg.

Giá cao su hôm nay 8/2: Kết thúc tuần giao dịch đà giảm chiếm ưu thế
Giá cao su hôm nay 8/2: Kết thúc tuần giao dịch đà giảm chiếm ưu thế (Ảnh: internet)

Công ty Cao su Phú Riềng.

Giá mủ nước ở mức 420 đồng/độ/TSC/kg; giá mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa: Giá thu mua mủ nguyên liệu tại nhà máy Xà Bang hôm nay:

Giá mủ nước: 

Mức 1 có giá 425 đồng/độ/ TSC/kg  áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên

Mức 2 có giá 420 đồng/độ/ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30

Mức 3 có giá 415 đồng/độ/ TSC/kg  áp dụng cho độ TSC từ 20 đến dưới 25

Nếu chất lượng mủ không đạt tiêu chuẩn trên thì:

+ Độ TSC dưới 20 nguyên nhân bị mưa chụp, sẽ thu mua với giá thấp hơn 10 đông/độ TSC so với mức 3.

+ Khi 9,0 < pH ≤ 9,8 mua theo công thức trừ lũy tiến: Cụ thể tăng 0,1 độ pH thì giảm 1 đồng/TSC áp dụng theo đơn giá mủ mức 2. Ví dụ: Khi pH =9,1 thì giá thu mua giảm 1 đồng/TSC so mức 2; Khi pH =9,2 thì giá thu mua giảm 2 đồng/TSC so mức 2.

+ Khi pH >9,8 hoặc mủ thử nghiệm phát hiện chất độn, chất bảo quản không phải NH3 thì thu mua bằng 80% mủ mức 1.

Giá mủ tạp:

Mủ chén, mủ đông có độ DRC ≥ 50% ở mức 19.500 đồng/kg.

Mủ chén, mủ đông có độ DRC từ 45 ≤ DRC < 50% ở mức 18.100 đồng/kg.

Mủ đông có độ DRC từ 35 ≤ DRC <  45% ở mức 14.600 đồng/kg

DRC dưới 35% công ty không thu mua.

Công ty cao su Bình Long:

Giá thu mua mủ nước tại nhà máy ở mức 432 đồng/ độ/TSC/kg.

Giá thu mua mủ nước tại đội sản xuất ở mức 422 đồng/ độ/TSC/kg.

 Giá thu mua mủ tạp có độ DRC=60% có giá 14.000 đồng/kg.

Giá cao su thế giới hôm nay:  Kết thúc tuần giao dịch Tocom giằng co, SHFE giảm áp lực, SGX dao động hẹp

Trong tuần giao dịch từ ngày 2/2 đến 7/2, thị trường cao su thế giới ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét giữa các sàn giao dịch lớn. Trong khi giá cao su tại Nhật Bản có xu hướng nhích nhẹ vào cuối tuần, thị trường Trung Quốc chịu áp lực điều chỉnh giảm, còn Singapore dao động trong biên độ hẹp và nghiêng về xu hướng giảm nhẹ.

Tại sàn Tocom (Nhật Bản), giá cao su RSS3 mở đầu tuần trong trạng thái ảm đạm khi phần lớn các hợp đồng giảm mạnh trong phiên 2/2, đặc biệt các kỳ hạn từ tháng 2 đến tháng 4/2026 giảm trên 3%. Tuy nhiên, từ giữa tuần trở đi, thị trường dần phục hồi. Các phiên 4–7/2 ghi nhận nhiều hợp đồng tăng trở lại, nhất là kỳ hạn xa. Đến cuối tuần, hợp đồng tháng 5 và tháng 6/2026 tăng lên lần lượt 341,50 JPY/kg và 347,40 JPY/kg, cho thấy lực mua quay lại với các kỳ hạn dài.

Tại sàn SHFE (Thượng Hải), giá cao su tự nhiên chịu áp lực giảm trong phần lớn các phiên giao dịch. Sau nhịp hồi nhẹ trong ngày 4 và 5/2, thị trường nhanh chóng quay đầu giảm trở lại. Các hợp đồng kỳ hạn từ tháng 3 đến tháng 7/2026 đồng loạt đi xuống trong hai phiên cuối tuần, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước nhu cầu tiêu thụ chưa cải thiện rõ rệt. So với đầu tuần, mặt bằng giá SHFE nhìn chung thấp hơn, với mức giảm phổ biến từ 0,6% đến hơn 1%.

Tại sàn SGX (Singapore),giá cao su TSR20 biến động trái chiều nhưng biên độ không lớn. Sau khi giảm mạnh trong phiên đầu tuần, thị trường hồi phục khá rõ trong các ngày 3 và 4/2, đưa giá lên sát ngưỡng 190 Cent/kg. Tuy nhiên, đà tăng không duy trì được lâu. Các phiên cuối tuần ghi nhận xu hướng điều chỉnh nhẹ, khiến giá TSR20 các kỳ hạn chủ yếu quay về vùng 187–188 Cent/kg.

Khép lại tuần giao dịch, thị trường cao su thế giới vẫn thiếu động lực tăng rõ ràng. Diễn biến giằng co tại Tocom cho thấy, kỳ vọng thận trọng về triển vọng trung hạn, trong khi áp lực giảm tại SHFE phản ánh nhu cầu tiêu thụ chưa phục hồi mạnh. Với SGX, xu hướng đi ngang chiếm ưu thế, cho thấy thị trường đang chờ thêm tín hiệu mới từ cung – cầu toàn cầu trong các tuần tới.

Lê Thanh(t/h)