Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long bước sang ngày 10/9 với trạng thái khá trầm lắng.
Sau khi IR 504 và CL 555 giảm trong phiên trước, mặt bằng giá nhiều khả năng tạm thời giữ nguyên.
Lúa tươi tiếp tục ổn định, trong khi doanh nghiệp và thương lái vẫn thận trọng với các giao dịch mới.
OM 18 và Đài Thơm 8 tiếp tục nằm trong nhóm có mặt bằng cao nhất, cùng dao động 6.500 - 6.700 đồng/kg.
OM 5451 giữ mức 6.400 - 6.500 đồng/kg, trong khi IR 50404 phổ biến 6.200 - 6.400 đồng/kg.
Nàng Hoa 9 được dự báo tiếp tục quanh 6.000 - 6.200 đồng/kg. OM 34 giữ vùng 5.800 - 5.900 đồng/kg.
Việc giá lúa không giảm thêm cho thấy áp lực bán tại vùng sản xuất chưa lớn. Người bán có xu hướng giữ giá sau nhiều phiên thị trường yếu, trong khi thương lái chủ yếu mua theo nhu cầu thực tế.
Tuy vậy, trạng thái đi ngang hiện tại vẫn phản ánh sức mua còn chậm hơn là tín hiệu của một đợt phục hồi.
IR 504 và CL 555 tạm chững sau nhịp giảm
IR 504 và CL 555 tiếp tục là hai mặt hàng đáng chú ý nhất.
Sau khi cùng giảm 50 đồng/kg trong phiên trước, giá hai loại gạo nguyên liệu này được dự báo giữ ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg trong ngày 10/9 .
Việc tạm thời không giảm thêm cho thấy thị trường có thể đang dò tìm vùng cân bằng mới.
Tuy nhiên, vùng giá hiện tại vẫn khá thấp so với mốc 9.000 đồng/kg. Để phục hồi, IR 504 và CL 555 cần lực mua thực tế mạnh hơn từ các nhà máy và doanh nghiệp xuất khẩu.
Nếu giao dịch vẫn cầm chừng, hai mặt hàng này có thể tiếp tục kéo dài trạng thái đi ngang.
OM 5451 và Đài Thơm 8 giữ giá tốt hơn
Trong khi IR 504 và CL 555 ở vùng thấp, OM 5451 tiếp tục duy trì 9.300 - 9.400 đồng/kg.

Đài Thơm 8 cũng giữ mức 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Khoảng cách giá cho thấy thị trường tiếp tục phân hóa theo từng chủng loại. Nhóm nguyên liệu có chất lượng và nhu cầu ổn định hơn đang giữ giá tốt hơn nhóm gạo phổ thông.
Nếu xuất hiện thêm đơn hàng gạo thơm, OM 5451 và Đài Thơm 8 có khả năng tiếp tục là nhóm được hỗ trợ tốt hơn.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam chưa có cơ sở để tạo một nhịp tăng mới ngay trong ngày 10/9.
Jasmine tiếp tục dao động 534 - 538 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm ở mức 470 - 480 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm giữ khoảng 438 - 442 USD/tấn.
Gạo thơm 100% tấm duy trì 373 - 377 USD/tấn.
Mặt bằng xuất khẩu ổn định giúp thị trường trong nước tránh thêm áp lực nhưng chưa đủ mạnh để đẩy giá gạo nguyên liệu phục hồi.
Thu Trang























