
Giá thép thế giới
Trong phiên giao dịch ngày 12/10, giá thép thanh kỳ hạn tháng 11/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) tăng 9 nhân dân tệ, tương đương 0,29%, lên 3.065 nhân dân tệ/tấn. Tại Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 cũng tăng 3,5 nhân dân tệ (0,51%), đạt 691,5 nhân dân tệ/tấn.
Cùng chiều đi lên, trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 tăng 0,76 USD, tương ứng 0,84%, lên 91,35 USD/tấn.
Trong tuần giao dịch đầu tiên sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh Trung Quốc, giá quặng sắt kỳ hạn tiếp tục suy yếu, theo báo cáo mới nhất của công ty tư vấn Shanghai Metals Market (SMM). Cước vận tải biển giảm trong kỳ nghỉ, trong khi phần lớn nhà máy thép vẫn ghi nhận thua lỗ dù giá than cốc đã đi xuống, khiến sản lượng gang lỏng tiếp tục giảm.
Về nguồn cung, một số mỏ nhỏ đã thu hẹp sản lượng do giá quặng sắt giảm và chi phí vận chuyển tăng. Ngược lại, các mỏ lớn vẫn bước vào giai đoạn xuất hàng cao điểm, với nguồn cung dự kiến tiếp tục gia tăng trong quý IV. SMM cho biết lượng quặng sắt xuất khẩu toàn cầu đang trong chu kỳ đi lên, lượng hàng cập cảng duy trì ở mức cao, trong khi nhu cầu từ Trung Quốc chưa có dấu hiệu cải thiện rõ rệt.
Dù vậy, SMM nhận định dư địa giảm của giá quặng sắt không lớn, bởi nhu cầu tiêu thụ cuối cùng chưa bước vào mùa thấp điểm, nhu cầu từ thị trường nước ngoài có phần khởi sắc và biên lợi nhuận của các nhà máy thép đã cải thiện sau khi giá than cốc giảm.
Trên thị trường giao ngay ngày 10/10, hoạt động giao dịch diễn ra khá trầm lắng khi các sàn kỳ hạn đóng cửa. Các thương nhân hạn chế chào bán, phần lớn nhà máy thép giữ tâm lý thận trọng và chỉ một số ít tham gia đấu thầu mua nguyên liệu. Giá quặng sắt giao ngay gần như không thay đổi so với phiên trước, trong khi lượng tồn kho tại cảng tăng đáng kể.
Đối với than cốc, các nhà máy thép tại một số khu vực của Trung Quốc đã triển khai đợt giảm giá thu mua lần thứ hai, với mức giảm 100 - 110 nhân dân tệ/tấn tùy chủng loại, áp dụng từ 0h ngày 12/10. Thị trường hiện tiếp tục kỳ vọng giá than cốc sẽ giảm thêm trong đợt thứ ba, qua đó kéo mặt bằng chi phí sản xuất thép xuống thấp hơn.
Ở phân khúc thép thanh, giá giao ngay tại phần lớn thị trường Trung Quốc tăng 10 - 20 nhân dân tệ/tấn trong ngày 10/10, theo diễn biến đi lên của giá kỳ hạn. Tuy nhiên, giao dịch có dấu hiệu chững lại sau nhịp tăng, khi người mua chủ yếu đặt hàng theo nhu cầu thực tế. Các nhà máy sử dụng lò cao vẫn chịu lỗ trên mỗi tấn thép thanh, còn các nhà máy lò điện duy trì sản lượng ở mức trung bình thấp, giúp hạn chế áp lực nguồn cung thép xây dựng.
Theo SMM, lượng tồn kho thép cuộn cán nóng tại 86 kho trên toàn Trung Quốc trong tuần qua đạt 4,92 triệu tấn, tăng 308.200 tấn, tương ứng 6,69% so với tuần trước. Tồn kho tăng tại tất cả các khu vực. Trước diễn biến này, SMM dự báo hợp đồng thép cuộn cán nóng có khối lượng giao dịch lớn nhất sẽ dao động trong vùng 3.220 - 3.290 nhân dân tệ/tấn trong tuần này.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, giá phế liệu nhập khẩu HMS 1&2 (80:20) bình quân trong tháng 9 tăng 28 USD, lên 400 USD/tấn CFR, theo GMK Center. Giá nguyên liệu này tăng từ vùng 380 - 382 USD/tấn vào đầu tháng lên mức đỉnh 402 - 404 USD/tấn vào cuối tháng. Tuy nhiên, trước phản ứng không đồng tình của người mua với mặt bằng giá cao, các giao dịch phế liệu từ châu Âu được chốt ở mức 395 USD/tấn CFR.
Nguồn cung phôi thép và gang thỏi từ Nga và Ukraine bị gián đoạn đã khiến phế liệu trở thành lựa chọn nguyên liệu khả thi duy nhất đối với các nhà máy lò điện hồ quang tại Thổ Nhĩ Kỳ. Trong khi đó, cước vận tải tăng lên mức kỷ lục 50 USD/tấn đối với hàng từ EU và 60 USD/tấn đối với hàng từ Mỹ. Theo Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ (TUIK), nước này nhập khẩu 1,4 triệu tấn phế liệu trong tháng 8, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, lượng nhập khẩu đạt 12,8 triệu tấn, tăng 3,9%. GMK Center dự báo giá phế liệu nhập khẩu tại Thổ Nhĩ Kỳ trong tháng 10 sẽ giảm nhẹ hoặc duy trì ổn định quanh 390 - 400 USD/tấn CFR.
Giá thép xây dựng trong nước
Tại thị trường trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục được các doanh nghiệp giữ ổn định. Hòa Phát niêm yết thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và thép D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Thép Việt Ý tại miền Bắc có giá CB240 là 14.750 đồng/kg, còn CB300 ở mức 13.940 đồng/kg.
Trong khi đó, Pomina và VJS tại miền Bắc cùng báo giá thép CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Thép Kyoei và VAS tại miền Trung có giá chào bán CB240 là 15.050 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)























