
Giá thép tại miền Bắc
Thương hiệu thép Hòa Phát, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.010 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.010 đồng/kg.
Thương hiệu thép Việt Ý, dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.940 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.840 đồng/kg.
Thép Việt Đức, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.050 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.850 đồng/kg.
Thép Việt Sing, với thép cuộn CB240 có giá 14.040 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức giá 13.840 đồng/kg.
Thép VAS, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.740 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.330 đồng/kg.
Giá thép tại miền Trung
Thép Hòa Phát, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.800 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.600 đồng/kg.
Thép Việt Đức, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.250 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.050 đồng/kg.
Thép VAS, dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.640 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.130 đồng/kg.
Giá thép tại miền Nam
Thép Hòa Phát, thép cuộn CB240, ở mức 14.010 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.800 đồng/kg.
Thép VAS, dòng thép cuộn CB240 ở mức 13.740 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 13.430 đồng/kg.
Giá thép trên sàn giao dịch
Thép cây trên sàn giao dịch tương lai Thượng Hải (SHFE) giao tháng 9/2026 giảm 11 Nhân dân tệ, xuống mức 3.088 Nhân dân tệ/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn biến động khó lường trước khi xóa bỏ các mức tăng ban đầu, bất chấp việc Trung Quốc cam kết hỗ trợ tài chính, trong bối cảnh hàng loạt dữ liệu tiêu thụ thấp hơn dự kiến cho thấy nhu cầu yếu.
Hợp đồng quặng sắt tháng 5 được giao dịch nhiều nhất trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên (DCE) của Trung Quốc giảm 0,07% xuống còn 762,5 Nhân dân tệ/tấn (110,31 USD/tấn).
Hợp đồng quặng sắt tháng 3 (SZZFH6) trên sàn giao dịch Singapore giảm 0,28% xuống còn 99,9 USD/tấn.
Ngân hàng trung ương Trung Quốc cho biết, sẽ tăng cường hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy nhu cầu trong nước, trong bối cảnh tình trạng dư thừa công suất công nghiệp và tiêu dùng yếu đã ảnh hưởng đến niềm tin kinh doanh và làm suy giảm triển vọng tăng trưởng.
Tuy nhiên, dữ liệu công bố hôm thứ Tư cho thấy lạm phát tiêu dùng của Trung Quốc giảm trong tháng Giêng, trong khi tình trạng giảm phát giá sản xuất vẫn tiếp diễn, qua đó củng cố kỳ vọng của thị trường về các biện pháp chính sách bổ sung nhằm giải quyết sự mất cân đối cung – cầu.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 0,4%. Trong khi đó, chỉ số giá sản xuất (PPI) giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục xu hướng giảm phát kéo dài nhiều năm, gây áp lực lên lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp và cho thấy cần có thêm các biện pháp chính sách để kích thích nhu cầu thực tế cũng như xử lý những bất cân bằng sâu rộng trong nền kinh tế.
Trung Quốc hiện phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu để hấp thụ năng lực sản xuất, tuy nhiên danh sách ngày càng dài các biện pháp chống bán phá giá và quy định thương mại tại các quốc gia nhập khẩu có thể làm chệch hướng tăng trưởng nhu cầu dựa vào xuất khẩu, đặc biệt đối với thép Trung Quốc.
Trong bối cảnh các biện pháp chống bán phá giá toàn cầu gia tăng mạnh và xuất hiện tín hiệu thắt chặt kỷ luật sản xuất, tăng trưởng xuất khẩu được dự báo sẽ chậm lại vào năm 2026, với tổng khối lượng có thể giảm tới 30% trong năm này, theo báo cáo nghiên cứu của ANZ.
Các nguyên liệu sản xuất thép khác trên sàn giao dịch DCE giảm nhẹ, trong đó than cốc và than luyện cốc (DCJcv1) lần lượt giảm 0,31% và 0,86%.
Giá thép chuẩn trên sàn giao dịch tương lai Thượng Hải diễn biến trái chiều. Thép thanh và thép dây (SWRcv1) lần lượt giảm 0,07% và 0,15%, trong khi thép cuộn cán nóng và thép không gỉ tăng nhẹ 0,06% và 2,22%.
Hà Trần (t/h)























