
Giá thép thế giới
Đầu phiên 27/7, giá thép và quặng sắt kỳ hạn đồng loạt giảm nhẹ. Trên SHFE, giá thép thanh kỳ hạn tháng 8/2026 giảm 0,20% xuống 3.042 nhân dân tệ/tấn. Giá quặng sắt tháng 8 trên DCE giảm 0,47% còn 736 nhân dân tệ/tấn, trong khi hợp đồng cùng kỳ hạn trên SGX mất 0,36%, xuống 97,70 USD/tấn.
Thành phố Đường Sơn (Tangshan) đang triển khai đợt cắt giảm sản lượng thép ngắn hạn, theo GMK Center dẫn nguồn SteelOrbis. Theo đó, từ ngày 25/7 đến trưa 29/7, các nhà máy thép địa phương phải tạm dừng hoặc giảm công suất, trong đó lò cao giảm 20%, còn các nhà máy thiêu kết và lò nung vôi giảm 40%.
Nhiều doanh nghiệp đã xác nhận nhận được thông báo và triển khai các biện pháp phù hợp. Một số nhà máy tranh thủ bảo trì lò cao, trong khi số khác điều chỉnh sản lượng hoặc luân phiên dừng lò theo yêu cầu. Thực tế, từ đầu tháng 7, nhiều nhà máy thép Trung Quốc đã chủ động bảo trì nhằm cắt giảm thua lỗ và giảm áp lực dư cung trên thị trường.
Trong bối cảnh nhu cầu thép nội địa vẫn yếu và được dự báo khó cải thiện trong ngắn hạn, giới phân tích cho rằng giá thép thành phẩm chỉ có thể biến động đáng kể nếu chi phí nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là than cốc và quặng sắt, giảm. Trong nửa đầu năm 2026, Trung Quốc sản xuất 499,95 triệu tấn thép thô, giảm 3% so với cùng kỳ; sản lượng gang đạt 426,64 triệu tấn, giảm 2,8%; còn thép cán giảm 0,9%, xuống 718,78 triệu tấn.
Theo Hiệp hội Thép Thế giới (WorldSteel), sản lượng gang toàn cầu trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm 1,8% so với cùng kỳ, còn 689,02 triệu tấn. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu với 426,64 triệu tấn (giảm 2,8%), tiếp theo là Ấn Độ đạt 79,35 triệu tấn (tăng 4%) và Nhật Bản đạt 29,16 triệu tấn (giảm 0,4%).
Ở chiều ngược lại, sản lượng thép thô toàn cầu trong tháng 6/2026 tăng 1,7% so với cùng kỳ, đạt 155,7 triệu tấn. Tuy nhiên, lũy kế 6 tháng đầu năm, sản lượng vẫn giảm 0,7%, còn 931,5 triệu tấn.
Giá thép xây dựng trong nước
Thị trường thép xây dựng trong nước tiếp tục ổn định, khi các doanh nghiệp duy trì mặt bằng giá bán. Hòa Phát niêm yết thép CB240 và D10 CB300 ở mức 15.120 đồng/kg. Thép Việt Ý miền Bắc giữ giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg, trong khi Thép Việt Đức miền Bắc báo giá CB240 và D10 CB300 cùng ở mức 14.750 đồng/kg.
Đối với các doanh nghiệp khác, thép VJS miền Bắc niêm yết CB240 ở mức 14.850 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.750 đồng/kg. Thép Thái Nguyên lần lượt báo giá CB240 là 14.990 đồng/kg và D10 CB300 là 14.890 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)





















