
Cập nhật giá thép thế giới
Khép lại phiên giao dịch ngày 8/6, giá thép thanh giao tháng 7/2026 trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) tăng nhẹ 1 nhân dân tệ, tương đương 0,03%, lên mức 3.185 nhân dân tệ/tấn. Ngược lại, thị trường nguyên liệu đầu vào tiếp tục chịu áp lực khi giá quặng sắt kỳ hạn trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) giảm 5 nhân dân tệ, tương đương 0,64%, còn 773,5 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn SGX Singapore, giá quặng sắt giao tháng 7/2026 cũng giảm 1,43 USD, tương ứng 1,41%, xuống 100,30 USD/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn tiếp tục đi xuống khi nhà đầu tư lo ngại về tình trạng dư cung và triển vọng tiêu thụ thép suy yếu tại Trung Quốc - quốc gia sản xuất và tiêu thụ thép lớn nhất thế giới.
Trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt giao tháng 9, mặt hàng được giao dịch sôi động nhất, giảm 0,78% xuống 759 nhân dân tệ/tấn (111,83 USD/tấn). Tại Sàn Giao dịch Singapore (SGX), hợp đồng quặng sắt chuẩn giao tháng 7 cũng mất 1,26%, lùi về 100,45 USD/tấn.
Theo dữ liệu của SteelHome, lượng quặng sắt tồn kho tại các cảng lớn của Trung Quốc giảm 0,91% so với tuần trước. Tuy nhiên, quy mô tồn kho hiện vẫn cao hơn khoảng 25 triệu tấn so với cùng kỳ năm ngoái, cho thấy nguồn cung vẫn ở mức dồi dào.
DBX Commodities nhận định thị trường đang chịu áp lực từ nguồn cung lớn khi khối lượng quặng sắt vận chuyển liên tục lập kỷ lục mới, trong khi sản lượng thép thô của Trung Quốc có xu hướng giảm. Cùng với đó, biên lợi nhuận của các nhà máy thép bị thu hẹp khiến nhiều doanh nghiệp chuyển sang sử dụng quặng hàm lượng sắt thấp hơn để tiết giảm chi phí, làm giảm nhu cầu đối với quặng chất lượng cao.
Các chuyên gia của DBX Commodities cho rằng lượng hàng hóa qua cảng gia tăng không đồng nghĩa với việc lượng sắt thực tế đưa vào lò luyện tăng tương ứng, bởi các nhà máy đang ưu tiên sử dụng nguyên liệu có hàm lượng sắt thấp hơn.
Ngoài ra, cơ quan khí tượng Trung Quốc đã phát cảnh báo lũ quét tại các tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây và Quý Châu trong các ngày 7 - 8/6. Đây đều là những địa phương có hoạt động sản xuất thép đáng kể, nên thời tiết cực đoan có thể ảnh hưởng đến hoạt động của các nhà máy.
Dữ liệu từ Mysteel cho thấy tỷ lệ vận hành lò cao tại 247 nhà máy thép Trung Quốc trong tuần trước đạt 83,94%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với tuần trước đó, phản ánh xu hướng sản xuất chững lại.
Ở chiều ngược lại, các sản phẩm thép trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) nhìn chung duy trì trạng thái ổn định. Giá thép thanh và thép dây gần như đi ngang, thép cuộn cán nóng giảm 0,15%, trong khi thép không gỉ tăng 0,14%.
Giá thép trong nước tăng - giảm đan xen
Tại thị trường trong nước, các doanh nghiệp thép có động thái điều chỉnh giá theo nhiều chiều hướng khác nhau.
Ở nhóm giảm giá, Hòa Phát hạ 310 đồng/kg đối với thép CB240 và D10 CB300, đưa cả hai mặt hàng về mức 15.120 đồng/kg. Thép Việt Ý miền Bắc giảm giá thép CB240 xuống còn 14.850 đồng/kg. Trong khi đó, Thép Việt Đức miền Bắc giảm 500 đồng/kg đối với CB240 và 300 đồng/kg với D10 CB300, đưa cả hai sản phẩm về cùng mức 14.750 đồng/kg.
Ngược lại, một số doanh nghiệp lại điều chỉnh tăng giá bán. Thép VJS miền Bắc nâng giá CB240 thêm 900 đồng/kg lên 14.850 đồng/kg và tăng 1.200 đồng/kg đối với D10 CB300 lên 14.750 đồng/kg. Thép Thái Nguyên cũng tăng lần lượt 400 đồng/kg và 600 đồng/kg đối với hai chủng loại này, đưa giá CB240 lên 14.990 đồng/kg và D10 CB300 lên 14.890 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)






















