Người bán đổi tài khoản, cơ quan quản lý phải đổi cách kiểm soát
Chỉ một cú nhấp chuột, một phiên livestream và vài giờ sau, món hàng được quảng cáo là “chính hãng”, “hàng xách tay”, “giá tận gốc” đã có thể được giao tới tận nhà. Sự thuận tiện của thương mại điện tử đang mở rộng cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng tạo thêm không gian để hàng giả, hàng nhái và hàng hóa không rõ nguồn gốc len lỏi vào thị trường.
Điều đáng nói là phương thức kinh doanh của các đối tượng vi phạm đang thay đổi rất nhanh. Không còn phụ thuộc vào một cửa hàng hay một website cố định, người bán có thể kết hợp nhiều tài khoản mạng xã hội, livestream, sàn thương mại điện tử, ứng dụng nhắn tin, đơn vị vận chuyển và phương thức thanh toán khác nhau, khi một tài khoản bị phát hiện, một tài khoản khác có thể nhanh chóng xuất hiện.

Theo bà Lê Hoàng Oanh, Cục trưởng Cục Thương mại điện tử (Bộ Công Thương), tình trạng kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng không rõ nguồn gốc trên môi trường điện tử đang chuyển dịch mạnh sang các mô hình mới như livestream và mạng xã hội. Đặc tính mở, tốc độ lan truyền nhanh và khả năng tạo nhiều tài khoản khiến việc rà soát, xác minh, xử lý trở nên khó khăn hơn.
“Nếu trước đây việc kiểm tra hàng hóa thường gắn với một cửa hàng, kho hàng hay địa điểm kinh doanh cụ thể thì trên môi trường số, “địa chỉ” của người bán có thể thay đổi liên tục”, bà Oanh nói.
Bà Lê Hoàng Oanh cho biết, nhiều đối tượng không còn vận hành theo mô hình website cố định mà đồng thời sử dụng mạng xã hội, livestream, ứng dụng nhắn tin và những gian hàng tồn tại trong thời gian ngắn, sau khi bán hàng, họ có thể nhanh chóng xóa dấu vết hoặc chuyển sang tài khoản khác.
Khó khăn còn nằm ở chỗ dữ liệu của một giao dịch không nằm ở một nơi, thông tin có thể phân tán giữa sàn thương mại điện tử, đơn vị vận chuyển, trung gian thanh toán và mạng xã hội. Có trường hợp quảng cáo ở một nền tảng, chốt đơn ở nền tảng khác nhưng tiền lại được chuyển vào tài khoản cá nhân, khi đó, việc xác định ai là người thực sự đứng sau hoạt động kinh doanh trở nên phức tạp.
Với các nền tảng xuyên biên giới không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam, yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm, cung cấp thông tin hoặc phối hợp xử lý cũng đặt ra những thách thức riêng. Những thay đổi này cho thấy một thực tế, nếu chỉ kiểm tra sản phẩm sau khi hàng đã được bán ra, cơ quan chức năng luôn có nguy cơ đi sau người bán.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, lực lượng Quản lý thị trường Hà Nội đã kiểm tra, xử lý 242 vụ vi phạm liên quan đến thương mại điện tử, xử phạt hơn 5,5 tỷ đồng; trị giá tang vật vi phạm gần 1,9 tỷ đồng. Cũng trong thời gian này, lực lượng Quản lý thị trường Hà Nội kiểm tra 4.049 vụ, xử lý 4.006 vụ trên toàn địa bàn; chuyển 65 vụ có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan Công an.
Những con số này cho thấy hoạt động kiểm tra, xử lý vẫn được triển khai thường xuyên nhưng chính sự dịch chuyển nhanh của phương thức kinh doanh đặt ra yêu cầu cao hơn, quản lý không chỉ phải “bắt” được hàng vi phạm mà còn phải nhận diện được cả chuỗi hoạt động phía sau một giao dịch trực tuyến.

Ông Kiều Đình Cảnh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường TP. Hà Nội, cho biết lực lượng Quản lý thị trường tiếp tục giám sát hoạt động kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, website và mạng xã hội; phối hợp với công an, chính quyền địa phương, cơ quan chuyên ngành và chủ thể có thẩm quyền để xác minh nguồn gốc hàng hóa, làm rõ hành vi vi phạm và chuyển cơ quan điều tra những vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
Từ góc độ thực thi, đây là sự chuyển dịch đáng chú ý, từ kiểm tra một địa điểm sang theo dõi hoạt động kinh doanh trên nhiều không gian cùng lúc.
Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), cho rằng hoạt động kinh doanh hàng giả đang dịch chuyển mạnh từ không gian vật lý sang môi trường số. Nhiều đối tượng bán hàng qua livestream, mạng xã hội, sàn thương mại điện tử, sử dụng nhiều tài khoản trung gian, thậm chí thuê KOL, KOC quảng bá sản phẩm để che giấu hành vi vi phạm. Theo ông Linh, lực lượng thực thi cần chuyển từ tư duy kiểm tra hàng hóa sang giám sát toàn bộ hành vi kinh doanh trên môi trường số.
Đây cũng là lý do công nghệ được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng trong công tác quản lý. Theo bà Lê Hoàng Oanh, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý với nền tảng thương mại điện tử, đơn vị thanh toán, vận chuyển và các chủ thể liên quan cần tiếp tục được tăng cường. Cùng với đó là ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn để phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm.
Không thể chỉ yêu cầu người bán chịu trách nhiệm
Một giao dịch trực tuyến không chỉ có người mua và người bán, đằng sau một đơn hàng còn có sàn thương mại điện tử, nền tảng mạng xã hội, đơn vị quảng cáo, thanh toán, logistics và nhiều chủ thể khác. Vì vậy, nếu chỉ xử lý người bán sau khi hàng hóa đã đến tay khách hàng, bài toán chống hàng không rõ nguồn gốc khó có thể giải quyết tận gốc.
Đây là vấn đề được TS Trương Trọng Hiểu, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM, đặt ra khi phân tích trách nhiệm của các sàn thương mại điện tử.
Theo TS Trương Trọng Hiểu, trách nhiệm của sàn cần được nhìn từ ba vấn đề: Bản chất pháp lý; trách nhiệm xác minh thông tin cửa hàng và sản phẩm; cùng cơ chế tiếp nhận, giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng. Các sàn cần có nghĩa vụ xác minh danh tính, nguồn gốc kinh doanh và khả năng truy xuất của người bán, nhất là với nhóm hàng có nguy cơ cao như mỹ phẩm, thực phẩm chức năng hoặc hàng hóa có giá trị lớn.
Vấn đề ở đây không chỉ là “có gỡ sản phẩm vi phạm hay không”, mà là nền tảng có thể nhận diện người bán và truy lại giao dịch đến đâu.

Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, riêng năm 2025, cơ quan này đã phối hợp cung cấp cho các cơ quan chức năng hơn 250 trường hợp website, ứng dụng có dấu hiệu vi phạm để xử lý theo thẩm quyền. Đồng thời, thông qua phối hợp với các nền tảng thương mại điện tử, đã rà soát, gỡ bỏ 47.842 sản phẩm vi phạm và chặn 13.728 gian hàng có dấu hiệu vi phạm.
Các nhóm hàng bị yêu cầu rà soát, xử lý tập trung vào thực phẩm chức năng, thuốc, mỹ phẩm, sữa; hàng hóa thuộc danh mục cấm; cùng một số nhóm như đồ gia dụng, giày dép, thời trang có nguy cơ liên quan đến giả mạo nhãn hiệu, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc cung cấp thông tin sai lệch.
Nhưng xử lý sau khi phát hiện vẫn chỉ là một phần của bài toán. TS Trương Trọng Hiểu cho rằng, cơ chế tiếp nhận phản ánh của người tiêu dùng tại một số sàn còn bất cập. Người mua trong nhiều trường hợp phải gửi email hoặc nhắn tin qua hệ thống tự động rồi chờ phản hồi. Ông Hiểu cho rằng, cơ quan quản lý cần tăng cường kiểm tra trách nhiệm của các sàn trong thời hạn xử lý, cơ chế đối thoại, lưu trữ chứng cứ giao dịch và hỗ trợ người tiêu dùng khi xảy ra tranh chấp.
Từ phía doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử, ông Đỗ Hữu Hưng, CEO Công ty Accesstrade VN và Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), cho rằng Luật Thương mại điện tử có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đã đặt cách tiếp cận quản lý theo hướng toàn diện hơn. Thay vì chủ yếu quản lý từng đơn hàng, việc quản lý hướng tới cả hệ sinh thái thương mại điện tử, từ người bán, sàn, logistics, thanh toán đến hoạt động marketing.
Đây là điểm có ý nghĩa trong bối cảnh một sản phẩm có thể được quảng cáo ở nơi này nhưng bán ở nơi khác, thanh toán qua một kênh khác và giao hàng bởi một đơn vị thứ tư.
Luật sư Phạm Thành Tài, Giám đốc Công ty Luật Phạm Danh, cũng cho rằng thương mại điện tử không phải vùng trống của pháp luật. Vấn đề khó hiện nay là xác định đúng chủ thể vi phạm và thu thập chứng cứ điện tử. Vì vậy, bên cạnh xử lý người bán, cần tăng trách nhiệm của nền tảng trong xác minh thông tin người kinh doanh, lưu trữ dữ liệu giao dịch và phối hợp với cơ quan chức năng khi phát hiện dấu hiệu vi phạm.
Nhìn từ phía người mua, những rủi ro này không còn là chuyện xa xôi.
Chị Hà Phương, một người thường xuyên mua hàng qua sàn thương mại điện tử cho biết, từng mua một lọ mỹ phẩm được giới thiệu là hàng xách tay chính hãng qua livestream, bao bì sản phẩm rất giống hàng thật nhưng sau vài ngày sử dụng, chị bị kích ứng da, khi muốn khiếu nại, tài khoản người bán đã bị khóa.

Câu chuyện này cho thấy, điểm yếu của người tiêu dùng trong môi trường trực tuyến, họ nhìn thấy sản phẩm nhưng không nhìn thấy toàn bộ quá trình hình thành nguồn gốc sản phẩm, những lời quảng cáo, hình ảnh đẹp, lượt tương tác cao hay mức giá hấp dẫn không đồng nghĩa với khả năng truy xuất nguồn gốc.
Bởi vậy, người tiêu dùng vẫn là một mắt xích trong cuộc chiến chống hàng không rõ nguồn gốc. Bà Nguyễn Kiều Oanh, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thành phố Hà Nội cho rằng, bên cạnh kiểm tra, xử lý cần tiếp tục tuyên truyền để người kinh doanh tự giác chấp hành pháp luật và người tiêu dùng nâng cao khả năng nhận diện hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc.
Từ phía cơ quan quản lý, yêu cầu đặt ra không phải là hạn chế sự phát triển của thương mại điện tử mà là làm cho hoạt động kinh doanh trực tuyến minh bạch hơn.
Theo bà Lê Hoàng Oanh, các quy định mới tập trung tăng trách nhiệm của các chủ thể tham gia thương mại điện tử, đặc biệt là nền tảng số trong xác thực, định danh người bán, lưu trữ và cung cấp dữ liệu phục vụ hậu kiểm, phối hợp xử lý vi phạm và ngăn chặn hàng giả, hàng nhái, hàng không rõ nguồn gốc. Khung pháp lý cũng hướng tới quản lý hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới và các nền tảng nước ngoài có phát sinh hoạt động, doanh thu tại Việt Nam, quan trọng hơn là trách nhiệm phải được phân bổ theo đúng vai trò của từng chủ thể.
Người bán phải chứng minh nguồn gốc hàng hóa. Sàn phải xác thực và lưu trữ thông tin cần thiết. Đơn vị vận chuyển, thanh toán phải phối hợp khi có yêu cầu theo quy định. Doanh nghiệp cần chủ động bảo vệ thương hiệu và cung cấp thông tin về hàng giả. Lực lượng chức năng phải tăng khả năng giám sát trên không gian số. Người tiêu dùng cần thận trọng khi lựa chọn và phản ánh khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Ông Trần Hữu Linh nhấn mạnh rằng, không thể chỉ dựa vào lực lượng thực thi mà cần sự tham gia của cả hệ sinh thái. Theo ông Linh, các sàn thương mại điện tử, đơn vị quảng cáo, vận chuyển, thanh toán, KOL, KOC tham gia vào quá trình bán hàng đều phải có trách nhiệm lớn hơn đối với hàng hóa được quảng bá và lưu thông trên nền tảng.
Thực tế tại Hà Nội cho thấy, áp lực kiểm soát thị trường vẫn rất lớn. Trong tháng 8/2026, các lực lượng chức năng trên địa bàn đã kiểm tra 6.333 vụ, xử lý 6.139 vụ vi phạm, trong đó có 204 vụ hàng giả; tổng số tiền thu nộp ngân sách hơn 1.780 tỷ đồng.
Những con số ấy cho thấy kiểm tra, xử lý vẫn là một phần không thể thiếu nhưng với môi trường số, nếu chỉ chờ vi phạm xuất hiện rồi xử lý thì rất khó theo kịp tốc độ của thị trường.
Một tài khoản có thể biến mất trong vài phút, một livestream có thể kết thúc sau vài chục phút, một gian hàng có thể được thay bằng gian hàng khác, trong khi đó, một sản phẩm không rõ nguồn gốc có thể tiếp cận hàng nghìn người chỉ sau một phiên bán hàng trực tuyến.
Vì vậy, bài toán quản lý hàng không rõ nguồn gốc trên mạng đang cần một cách tiếp cận khác, quản lý bằng dữ liệu, truy vết giao dịch, xác thực người bán, chia sẻ thông tin và giám sát rủi ro thay vì chỉ kiểm tra sản phẩm khi hàng đã được đưa ra thị trường.
Mục tiêu cuối cùng không phải là làm cho thương mại điện tử trở nên khó kinh doanh hơn, mà là để những người kinh doanh nghiêm túc không phải cạnh tranh với những người bán hàng không rõ nguồn gốc bằng lợi thế của việc né tránh trách nhiệm.
Khi hàng hóa ngày càng dễ dàng đi từ một tài khoản mạng xã hội đến tận cửa nhà người mua, “địa chỉ” của hàng hóa không còn chỉ là một cửa hàng hay một kho hàng, nó nằm trong dữ liệu, tài khoản, giao dịch, quảng cáo, thanh toán và vận chuyển. Muốn quản lý được hàng không rõ nguồn gốc trên mạng, vì thế cũng phải lần theo toàn bộ hành trình ấy, đó mới là cách để không gian số không trở thành nơi hàng hóa vi phạm có thể dễ dàng tìm được “đất sống”.
Ngọc Linh























