Khi chính sách chưa chạm tới doanh nghiệp

Sau gần một thập kỷ triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hệ thống chính sách đã từng bước hình thành với nhiều nội dung như hỗ trợ tín dụng, thuế, kế toán, mặt bằng sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực, tư vấn pháp lý, đổi mới công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo. Nhiều chương trình đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh và cải thiện môi trường đầu tư.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách trên giấy và khả năng thụ hưởng trên thực tế vẫn còn khá lớn. Không ít doanh nghiệp phản ánh rằng việc tiếp cận các chương trình hỗ trợ còn nhiều rào cản về thủ tục, hồ sơ và điều kiện. Có chính sách doanh nghiệp không biết để đăng ký; có chính sách biết nhưng không đủ điều kiện; cũng có trường hợp hoàn thiện hồ sơ nhưng thời gian giải quyết kéo dài khiến doanh nghiệp bỏ cuộc giữa chừng.

Đây cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng hiệu quả của chính sách không nên được đánh giá bằng số lượng văn bản ban hành hay quy mô nguồn lực bố trí, mà phải được đo bằng số doanh nghiệp thực sự tiếp cận được hỗ trợ và giá trị gia tăng mà chính sách mang lại.

Trong bối cảnh kinh tế đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, kinh tế số và phát triển xanh, nếu các chính sách vẫn vận hành theo tư duy hành chính truyền thống thì sẽ khó tạo động lực cho khu vực DNNVV – lực lượng được xem là "xương sống" của nền kinh tế.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng và tạo việc làm của nền kinh tế Việt Nam. Ảnh minh hoạ (Internet)
Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng và tạo việc làm của nền kinh tế Việt Nam. Ảnh minh hoạ (Internet)

Tư duy hỗ trợ phải thay đổi

Điểm đáng chú ý trong dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) là sự chuyển đổi từ tư duy hỗ trợ mang tính bao cấp sang hỗ trợ dựa trên hiệu quả và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Theo dự thảo, việc hỗ trợ sẽ phải bảo đảm công khai, minh bạch về đối tượng, nội dung, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình; phân bổ nguồn lực theo kết quả đầu ra thay vì dàn trải; đồng thời triển khai các phương thức linh hoạt như "phiếu hỗ trợ" để doanh nghiệp chủ động lựa chọn dịch vụ phù hợp.

Một điểm mới khác là mở rộng phạm vi hỗ trợ sang những lĩnh vực đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp hiện nay như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn, tham gia chuỗi giá trị và nâng cao năng lực công nghệ.

Đặc biệt, dự thảo cũng đề xuất đa dạng hóa hình thức bảo đảm tín dụng, khuyến khích các tổ chức tín dụng xem xét cho vay dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh, tài sản trí tuệ hoặc tài sản số thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản thế chấp như trước đây. Đây được kỳ vọng sẽ tháo gỡ một trong những "nút thắt" lớn nhất đối với DNNVV là khả năng tiếp cận vốn.

Không chỉ hỗ trợ vốn

Nhiều năm qua, khi nói đến hỗ trợ doanh nghiệp, phần lớn các kiến nghị đều tập trung vào tín dụng hoặc ưu đãi thuế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy những khó khăn lớn nhất của DNNVV hiện nay không chỉ nằm ở vốn mà còn ở năng lực quản trị, trình độ công nghệ, khả năng đổi mới sản phẩm, phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường.

Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, doanh nghiệp nhỏ muốn tồn tại phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn mới về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh, giảm phát thải, quản trị theo tiêu chuẩn ESG, an toàn dữ liệu và chuyển đổi số. Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi chi phí lớn, trong khi phần lớn DNNVV lại có nguồn lực hạn chế.

Chính vì vậy, chính sách hỗ trợ trong giai đoạn mới cần được thiết kế theo hướng đồng hành với toàn bộ vòng đời phát triển của doanh nghiệp thay vì chỉ hỗ trợ ở một số khâu riêng lẻ. Hỗ trợ tư vấn chiến lược, đào tạo nhân lực, kết nối thị trường, chuyển giao công nghệ, xúc tiến thương mại, bảo hộ sở hữu trí tuệ hay phát triển thương hiệu cần được coi là những cấu phần quan trọng không kém các chính sách tài chính.

Một hệ sinh thái hỗ trợ hiệu quả cũng cần sự tham gia của các hiệp hội doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức tư vấn và khu vực tư nhân nhằm cung cấp các dịch vụ chuyên sâu, giúp doanh nghiệp tiếp cận tri thức và công nghệ mới với chi phí hợp lý.

Hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững. Ảnh minh hoạ (BQĐND)
Hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững. Ảnh minh hoạ (BQĐND)

Chính sách tốt phải dễ tiếp cận

Một trong những yêu cầu được cộng đồng doanh nghiệp nhấn mạnh trong quá trình góp ý sửa đổi Luật là phải đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính.

Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp nhỏ không có bộ phận pháp chế hoặc nhân sự chuyên trách để theo dõi hàng chục chương trình hỗ trợ khác nhau. Nếu mỗi chính sách đều yêu cầu nhiều loại giấy tờ, nhiều cấp xác nhận và thời gian xử lý kéo dài thì doanh nghiệp sẽ không đủ nguồn lực để theo đuổi.

Do đó, việc xây dựng đầu mối hỗ trợ thống nhất, số hóa toàn bộ quy trình tiếp nhận hồ sơ, công khai tiêu chí xét duyệt, rút ngắn thời gian xử lý và cho phép doanh nghiệp theo dõi tiến độ trực tuyến sẽ là những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.

Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế giám sát độc lập, đánh giá định kỳ hiệu quả từng chương trình hỗ trợ dựa trên các chỉ số cụ thể như số doanh nghiệp được hưởng lợi, mức tăng doanh thu, năng suất lao động, số việc làm tạo mới hay khả năng tham gia chuỗi cung ứng. Chỉ khi hiệu quả được lượng hóa, chính sách mới có thể được điều chỉnh kịp thời và tránh tình trạng nguồn lực bị phân tán.

Đồng hành để khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa bứt phá

Với bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào năng lực của cộng đồng DNNVV. Đây không chỉ là khu vực tạo việc làm và đóng góp ngân sách mà còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế địa phương và hình thành các chuỗi cung ứng nội địa.

Việc sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vì thế không đơn thuần là điều chỉnh một số quy định pháp lý mà là cơ hội để xây dựng một hệ thống chính sách hiện đại, linh hoạt và phù hợp với bối cảnh phát triển mới.

Khi chính sách được thiết kế theo hướng minh bạch, dễ tiếp cận, lấy hiệu quả làm thước đo và lấy doanh nghiệp làm trung tâm, các nguồn lực hỗ trợ sẽ được phát huy đúng mục tiêu. Đó cũng là tiền đề quan trọng để khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và đóng góp mạnh mẽ hơn cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.

Hà Trần