
Bên tôi, cô cán bộ huyện Đoàn A Lưới xinh gái, là một giáo viên chuyển công tác qua được mấy năm. Để cho 2 người bạn Trường Sơn nói chuyện, cô và tôi cùng những cán bộ đoàn ngồi nghe anh Phan Công Tuyên kể chuyện về Cu The. Anh Tuyên có kiểu nói chuyện rất hay, giọng chắc, sang sảng, thu hút mọi người. Qua anh, tôi hình dung được nỗi cơ cực, vất vả của người Anh hùng thuở mà tuổi học trò hiện nay còn chơi đánh bi, rồng rắn lên mây.

Anh hùng Hồ Vai khi nhỏ có tên là A Vai hay Cu The, mới 6 tuổi đã mất hơi ấm cả cha lẫn mẹ, được người thân và bà con thôn bản đùm bọc nuôi nấng. Ông ngày ngày như con sóc, con hươu đi từ mỏm rừng này, lên ngọn núi khác để tìm củ sắn, củ mài; bắt con cá, con chim; hái ngọn lá rau, lá tàu bay mang về để ăn. Chính nhờ vậy, ông rất khỏe, người chắc như cây gỗ lim, gỗ táu trong rừng.
Khi nhũng người lính Mỹ đầu tiên đặt chân xuống sân bay A So, biến nơi đây từ mảnh đất màu mỡ, xanh um thành thung lũng A Sầu chết chóc; rồi những căn hầm dã chiến, lô cốt bê tông được dựng lên ở Bốt Đỏ, A Ngo; những họng súng đen ngòm trên đồi A Bia (Hamburger Hill), A Đon, A Nôr, A Púc... chĩa về các thôn bản làm cho người dân A Lưới không còn nương rẫy làm ăn; các bản làng của người Tà Ôi ở Hồng Thái, Hồng Quảng, Nhâm; người Pa Kô ở A Ngo, Hồng Bắc, Hồng Vân... ngày càng bị đẩy vào rừng sâu, lên tận đầu nguồn sông A Sáp.

Không cam chịu, khi cách mạng về, A Vai cùng người dân A Lưới gia nhập bộ đội địa phương chống càn, bảo vệ núi rừng, nương rẫy, sông suối A Lưới. Người dân nơi đây thông thuộc địa hình, họ nhanh như con sóc, con nai; mạnh như hổ báo không từ một cách đánh nào. A Vai thời điểm này là chàng trai trẻ, hừng hực khí thế như ông nói “Chỉ sợ đau không đi đánh giặc được chứ không sợ chết”.
Từ năm 1960 đến 1965, ông đã cùng dân làng chiến đấu đập tan hàng trăm cuộc càn quét lớn, nhỏ của địch. Với chức vụ Tiểu đội trưởng, ông dẫn quân đánh vào sân bay A So, phá tan các đồn bốt của giặc, hướng dẫn dân chống càn, chống gom dân lập ấp... cái tên A Vai đã trở thành biểu tượng của người dân A Lưới nhưng lại là hung thần với kẻ thù.
Khi nghe tôi hỏi từ cái tên “móc nôi” A Vai đến cái tên Hồ Vai có lúc nào, Anh hùng Hồ Vai kể trong hạnh phúc: Năm 1965, ông cùng một số AHLLVT được đưa ra miền Bắc gặp bác Hồ và trong lần gặp đầu tiên A Vai đã được Bác Hồ đặt tên là Hồ Đức Vai, theo họ của Bác. Khi trở về, Anh hùng Hồ Đức Vai báo công với Đảng, với lãnh đạo và người dân A Lưới, từ đó đều có mong muốn chuyển sang mang họ Hồ của Bác cho đến nay. Ông cho biết thêm, ông may mắn được gặp Bác và được Bác mời cơm, trò chuyện thân mật tổng cộng 5 lần.

Tôi không biết khi báo công với Đảng về thành tích chống giặc thì ông thế nào, chứ ngày báo công tại Hội nghị “Người tốt việc tốt” do Huyện A Lưới tổ chức ,thì đôi mắt ông rực sáng, thể hiện niềm tin lớn về khả năng làm giàu để đổi đời của người dân các bộ tộc A Lưới. Tôi còn nhớ, lúc đó “Lão nông” Hồ Vai sung sướng cho biết, từ 80 vạn con cá nuôi ở 4 cái hồ, diện tích trên nghìn mét vuông và đàn lợn thịt trong 3 năm (1992 - 1995) ông đã trở thành “triệu phú” với tổng thu nhập chừng 20 triệu đồng/năm. Ông cho biết thêm, chỉ dăm năm nữa khi 3.400 cây quế của ông đến kỳ thu hoạch thì chí ít mỗi năm ông có thêm vài chục triệu đồng (có lẽ nếu bây giờ thì ông đã trở thành tỷ phú).
Nghe ông kể, thấy chuyện làm giàu của ông nhẹ như không, nhưng đi sâu vào mới biết ông đã gánh biết bao thất bại như chuyện đánh giặc, vận động người dân A Lưới đánh Mỹ và thắng Mỹ cũng lắm chông gai, không phải thuận lợi hoàn toàn. Có hôm đánh thắng giòn giã, có hôm bị địch truy kích phải chạy sâu vào rừng nhờ hang động, sông suối che chở. Ông tâm sự: Đất A Lưới rất khó, trồng thông đang lên xanh tốt, tưởng thu hoạch bạc triệu trong tầm tay, ai ngờ chỉ vài tháng cây rụi lần, trụi lá, chết khô từ trong ra ngoài; trồng cây cam sành, cây bưởi xứ Nghệ lo thức đêm hôm, tưới nước, bắt sâu nhưng mới ra quả đã héo vàng, rụng hết. Trồng tiêu, trồng trẩu theo hướng dẫn kỹ thuật của phòng nông nghiệp 100 cây còn lại đếm không khắp bàn tay.

Về nuôi cá cũng vậy, cứ ngỡ nuôi cá dễ, ông ra sức đào hồ rồi mua cá giống về thả. Ai ngờ do đất còn ngấm thuốc khai quang, ông nuôi mấy lứa cá chết sạch, làm ông ngẩn ngơ mất một thời gian dài
Như đánh giặc, ông không hề nản chí “thua keo này, bày keo khác”, ông lại mày mò đọc sách, đi học kỹ thuật; không trồng được cây này, ông trồng cây khác.... cứ như vậy “Lão nông” Hồ Vai trở thành gương sáng về sản xuất cho thanh niên và người dân A Lưới. Như ông nói “Người dân A Lưới nghèo lắm, họ muốn làm nhưng thiếu vốn, nếu chẳng may họ sản xuất, chăn nuôi thất bại thì chưa nói nợ nần, mất vốn mà dẫn đến nản chí... thì rất nguy hiểm”.

Tôi cảm nhận được điều đó, khi một lần nghe Thầy Hồ Văn Phờn - Hiệu trưởng Trường tiểu học Hồng Thái, xã vùng biên giới của A Lưới tâm sự: Người dân A Lưới có một số thói quen không tốt là nữ thì địu con lên rẫy hái, mót, đốt, trỉa còn chồng khá ít người giúp vợ, họ chỉ thích đi “làm ăn lớn” như đào đãi vàng, tìm trầm, đào phế liệu. Họ làm được bao nhiêu thường đổ vào rượu chè, ăn nhậu còn việc nhà, việc con cái đều nằm trên đôi vai của người vợ. Chẳng may vụ mùa thất bát thì cả nhà thiếu đói...

... và “Lão nông” Hồ Vai không muốn điều đó, ông ngày ngày đến từng thôn bản vận động cuộc sống mới, vận động làm ăn. Cứ thế cuộc vận động như từng đốm lửa nhỏ lan dần, lan dần bừng sáng và các hủ tục lạc hậu dù chưa hết nhưng từng bước bị đẩy xa khỏi các bản làng A Lưới
Trần Minh Tích























