Lãi vay cao, doanh nghiệp đối mặt thêm sức ép chi phí
Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong tháng 8, lãi suất cho vay bình quân của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước và nhóm cổ phần đối với các khoản vay mới cùng dư nợ cũ dao động từ 8,4 - 10,7%/năm, tăng so với mức 8,3 - 10,5%/năm của tháng 7.
Đáng chú ý, mức bình quân công bố chưa phản ánh đầy đủ chi phí vốn mà mọi khách hàng phải trả. Tính đến ngày 21/9, hơn 20 ngân hàng thương mại đã công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 8, trong đó nhiều đơn vị ghi nhận mức trên 10%/năm.
Techcombank dẫn đầu danh sách với 11,2%/năm, tăng 0,58 điểm phần trăm so với tháng trước. OCB ở mức 10,94%/năm, BVBank 10,8%, Viet A Bank 10,76% và LPBank 10,19%/năm. Riêng VIB tăng mạnh 0,8 điểm phần trăm, lên 9,08%/năm.

Ở chiều ngược lại, GPBank giảm từ 11,34% xuống 9,46%/năm, cho thấy diễn biến lãi suất giữa các ngân hàng không hoàn toàn đồng nhất.
Theo phản ánh từ thị trường, lãi suất vay thực tế tại nhóm ngân hàng lớn phổ biến 9 - 10,5%/năm, trong khi một số ngân hàng tư nhân có thể lên tới 12%/năm. Với doanh nghiệp có dòng tiền mỏng hoặc nhu cầu vốn lưu động lớn, chi phí tài chính tăng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, kế hoạch mở rộng sản xuất và sức cạnh tranh.
Đáng lưu ý, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên đã chạm mức khoảng 4%/năm, mức tối đa theo quy định hiện hành. Điều này cho thấy dư địa giảm thêm lãi suất ở một số nhóm tín dụng chính sách đang không còn nhiều nếu không có những giải pháp hỗ trợ từ phía nguồn vốn và cơ chế điều hành.
Thanh khoản và NIM tạo sức ép lên chính sách giảm lãi vay
Áp lực duy trì lãi suất cho vay ở mức hợp lý đang diễn ra trong bối cảnh các ngân hàng phải cạnh tranh huy động vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 - 12 tháng trong tháng 8 dao động 6,5 - 8%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước. Kỳ hạn trên 24 tháng cũng tăng lên 7,2 - 8,1%/năm.
Khi chi phí đầu vào tăng, việc giảm lãi suất cho vay sẽ tác động trực tiếp đến biên thu nhập lãi thuần (NIM), yếu tố quan trọng trong hiệu quả hoạt động ngân hàng. Đây là lý do các tổ chức tín dụng phải cân nhắc giữa mục tiêu hỗ trợ khách hàng và yêu cầu bảo đảm an toàn tài chính.
Nhóm phân tích SSI nhận định mặt bằng lãi suất cao đang khiến các ngân hàng có xu hướng dịch chuyển cơ cấu tín dụng sang trung và dài hạn. Trong khi đó, nhu cầu vay mua nhà có dấu hiệu chững lại do lãi suất thả nổi phổ biến 12 - 14%/năm.
Trước sức ép này, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các ngân hàng tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng và giảm thực chất lãi suất cho vay. Tuy nhiên, SSI và Yuanta Việt Nam cho rằng lãi suất huy động và cho vay khó giảm nhanh trong ngắn hạn, nhất là khi nhu cầu tín dụng thường tăng vào cuối năm.
Bài toán đặt ra không chỉ là giảm một mức lãi suất công bố, mà là làm sao đưa chi phí vốn thực tế về mức phù hợp hơn với sức chịu đựng của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm hệ thống ngân hàng duy trì thanh khoản và khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
Minh Thành (t/h)























