Làm gì để thuốc nội "khỏe"

(TH&CL) Hiện nay, tại Việt Nam, thuốc nội mới chiếm 48% tổng giá trị thị trường (3 tỷ USD). Trong đó, tỷ trọng thuốc nội được kê đơn ở các bệnh viện tuyến Trung ương chỉ khoảng 12%, ở tuyến tỉnh là 34% và tuyến huyện khoảng 62%. Phóng viên đã có cuộc trao đổi với PGS. TS. Phạm Khánh Phong Lan, Phó giám đốc Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh xung quanh vấn đề này. PGS.TS. Phạm Khánh Phong Lan, Phó giám đốc Sở y tế TP.HCM Thuốc nội đang chịu lép vế trên sân nhà. Vậy, theo bà, đâu là những điểm yếu của thuốc Việt? Một trong những điểm yếu của thuốc Việt hiện nay đó là số lượng thuốc đặc trị các chuyên khoa chưa nhiều, chủ yếu tập trung vào thuốc không kê đơn. Đặc biệt, các DN sản xuất trong nước đang đăng ký sản xuất trùng lặp tới hàng nghìn mặt hàng thuốc thông thường. Thậm chí, có nhiều loại thuốc trong nước đã sản xuất được, nhưng vẫn cho nhập khẩu. Do vậy, DN dược Việt Nam không chỉ khó cạnh tranh với DN nước ngoài, mà còn khó cạnh tranh với chính các DN trong nước. Hơn nữa, chính việc hạn chế về mặt thông tin quảng cáo hơn so với thuốc ngoại cũng là điểm yếu của thuốc nội… Từ đó, dẫn tới cả trong ngành y lẫn người dân đôi khi vẫn còn có tư tưởng dùng thuốc ngoại cho yên tâm. Có nhiều ý kiến cho rằng, một trong những yếu tố khiến người dân Việt chưa sử dụng thuốc Việt là do bác sỹ kê đơn tại các bệnh viện có liên quan đến “hoa hồng” và những vấn đề tế nhị khác. Tại TP. HCM thì sao? Vấn đề này, pháp luật cấm nên chúng tôi kiểm soát chặt chẽ và nếu phát hiện, tất nhiên sẽ xử lý đúng theo luật. Thế nhưng, tôi cũng xin trình bày quan điểm của mình: Chúng ta không nên từ một sự vật, hiện tượng để nêu lên thành bản chất. Một bác sỹ có lương tâm và có trình độ, bao giờ yêu cầu đầu tiên đặt ra cũng là tìm một loại thuốc hiệu quả cho bệnh nhân. Điều này cũng khẳng định uy tín của bác sỹ đó, nếu không thì không thể hành nghề được lâu dài. Hơn nữa, vấn đề chọn thuốc nào phải do kinh nghiệm trong sử dụng. Đương nhiên, một sản phẩm của công ty mới ra đời, sẽ chịu rất nhiều thiệt thòi so với sản phẩm cùng loại đã có quá trình sử dụng lâu dài, có thời gian dài đúc kết kinh nghiệm. Cho nên, lựa chọn số 1 của các bác sỹ bao giờ cũng là những gì người ta đã dùng rồi và tin tưởng và tôi cũng loại trừ có những trường hợp tiêu cực - kinh nghiệm có yếu tố chủ quan của con người. Vấn đề ở đây là làm sao tạo được môi trường cho sự đánh giá ấy khách quan bằng cách tạo điều kiện để những công ty dược Việt Nam có điều kiện tiếp cận với các bác sỹ để giới thiệu thông tin về thuốc cũng như kêu gọi lương tâm của người bác sỹ. Được biết, nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất dược nội địa khoảng 75 - 90%. Theo bà, điều này có đúng không? Tại sao Việt Nam có nguyên liệu, thậm chí xuất khẩu nguyên liệu mà vẫn phải nhập và nguyên liệu đó có tốt hay không? Đây là một vấn đề thuộc về kỹ thuật. Đối với ngành dược, chuyện nhập khẩu nguyên liệu ở đây bao gồm nguyên liệu hóa dược và nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên. Chúng ta cần khẳng định thế mạnh của mình ở đâu. Chúng ta xuất khẩu rất nhiều nguyên liệu có nguồn gốc thiên nhiên bởi thế mạnh của Việt Nam là hệ thống dược liệu hết sức phong phú và khi chúng ta đầu tư để có vùng nguyên liệu thì đây là những nguyên liệu chất lượng cao. Tuy nhiên, giá như chúng ta có thể giữ lại những vùng nguyên liệu này để sản xuất trong nước thay vì cũng nhập khẩu những sản phẩm tương tự. Đây là vấn đề thuộc về thị trường và cần có sự điều tiết của Nhà nước. Riêng về nguyên liệu hóa dược, tôi khẳng định không phải riêng Việt Nam mà rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng phải nhập khẩu. Đối với ngành công nghiệp dược, số lượng hoạt chất hiện nay lên đến con số 2.000, đây là sự tính toán về mặt kinh tế vì đôi khi nhập khẩu lại có lợi hơn. Nếu nhập khẩu nguyên liệu thì không thể đánh giá đó là gia công thông thường mà phải đòi hỏi những kỹ thuật bào chế hiện đại, đáp ứng các quy trình để có sản phẩm. Chưa kể, còn nhiều hệ lụy (như ô nhiễm môi trường…) nếu chúng ta phát triển công nghiệp hóa dược mà không có sự kiểm soát, liệu có thể tiêu thụ được hết? Liệu các công ty, xí nghiệp có băn khoăn về chất lượng hay không đối với một nền công nghiệp hóa dược còn rất non trẻ? Hiện số quốc gia trên thế giới đầu tư vào công nghệ hóa dược và công nghiệp hóa học để tạo ra nguồn nguyên liệu đủ rất ít. Vì vậy, chúng ta cần chọn nguồn nguyên liệu nhập khẩu như thế nào để bảo đảm chất lượng. Việt Nam nên tập trung đầu tư vào những nguyên liệu thấy cần thiết và cần có sự chủ động trên cơ sở sản phẩm đó là thế mạnh của chúng ta. Những đầu tư đó phải xuất phát từ thực trạng nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học, đặc biệt là những nhà hóa dược học trong nước. Vậy, bà có lời khuyên nào cho các DN dược trong nước? Thời gian vừa qua, dù thị trường cạnh tranh khốc liệt, vẫn có những công ty dược nội địa thành công vì biết tập trung vào những thuốc chuyên khoa đặc trị, ví dụ, ADN tái tổ hợp protein để làm các thuốc kháng siêu vi và cam kết mở rộng vào nhiều chuyên khoa khác như mạch, tiểu đường, huyết áp, nội tiết... Chỉ khi những công ty dược Việt Nam đầu tư tập trung vào chất lượng, đặc biệt đầu tư vào những gì thị trường thiếu thì chúng ta mới thành công chứ không phải đầu tư trùng lặp vào những mặt hàng thông thường, thậm chí trùng lặp lẫn nhau. Cơ quan quản lý cần hạn chế những loại thuốc ngoại nhập mà trong nước đã sản xuất được, đồng thời phải có định hướng cho công nghiệp dược trong nước. Đó là: Cần có một sự phân vùng và phân tuyến để làm sao cho các công ty cùng hợp tác, không giẫm chân lên nhau. Đương nhiên, muốn người dân tin tưởng và sử dụng thuốc Việt thì yếu tố chất lượng phải đặt lên hàng đầu. Trân trọng cảm ơn bà! Minh Anh (Thực hiện)
Bài viết khác

Mỹ đẩy mạnh thúc đẩy xuất khẩu nông sản sang Việt Nam
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đang tổ chức một phái đoàn thương mại nông nghiệp tới Việt Nam từ 9-12/11 nhằm kết nối các nhà sản xuất, nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp Mỹ với các đối tác thu mua tại một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất châu Á.

Quảng Ninh: Đảm bảo an ninh năng lượng phục vụ sản xuất, kinh doanh
Năm 2026, thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu với nhiều kết quả tích cực.

Huế- Thông xe tuyến đường 74 Nam Đông – A Lưới
Ngày 24/7, tại xã A Lưới 4, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 phối hợp cùng UBND TP. Huế tổ chức bàn giao, đưa vào sử dụng Dự án đường Nam Đông - A Lưới (Tỉnh lộ 74, giai đoạn 3).

Hà Nội nghiên cứu phát triển khu dịch vụ giải trí ban đêm có kiểm soát
Hà Nội đặt mục tiêu đưa kinh tế ban đêm trở thành động lực tăng trưởng mới của lĩnh vực dịch vụ, đóng góp khoảng 5% GRDP vào năm 2030. Thành phố sẽ phát triển các khu kinh tế đêm trọng điểm, mở rộng không gian văn hóa, du lịch, thương mại và nghiên cứu triển khai mô hình khu dịch vụ giải trí ban đêm có kiểm soát với nhiều loại hình hoạt động sau 24 giờ.

Quảng Ninh: Quy hoạch gần 39.000 ha biển thành khu bảo tồn
Tỉnh Quảng Ninh đang đẩy nhanh tiến độ thành lập và đưa vào vận hành 3 khu bảo tồn biển với tổng diện tích 38.575 ha. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng "lá chắn sinh thái", bảo vệ đa dạng sinh học và tạo động lực đột phá cho kinh tế biển bền vững.

TP.HCM thành lập Khu Thương mại tự do hơn 4.170 ha, hướng tới trung tâm kinh tế biển khu vực
TP.HCM chính thức thành lập Khu Thương mại tự do quy mô 4.174 ha gắn với cảng biển Cái Mép Hạ, đặt mục tiêu đến năm 2035 trở thành hạt nhân của trung tâm kinh tế biển vùng Đông Nam Bộ, đồng thời tạo động lực tăng trưởng mới dựa trên logistics, kinh tế số và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khánh Hòa: Động thổ dự án 528 tỷ đồng, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái công nghiệp đóng tàu
Dự án Nhà máy gia công khối kiện (Block) đóng mới tàu thủy có tổng vốn đầu tư hơn 528 tỷ đồng được động thổ tại Khu công nghiệp Ninh Thủy (Khánh Hòa) đánh dấu bước tiến mới trong phát triển công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Khu kinh tế Vân Phong trở thành trung tâm công nghiệp, kinh tế biển hiện đại của cả nước.

Bắc Ninh phấn đấu tỷ lệ hàng Việt tại các hệ thống phân phối đạt tới 85%
Bắc Ninh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hàng Việt Nam tại hệ thống phân phối đạt từ 80 - 85%, đồng thời thúc đẩy trên 80% doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử nhằm kích cầu tiêu dùng và phát triển thị trường nội địa bền vững.

Nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh: Doanh nghiệp đang "đặt cược" vào chu kỳ tăng trưởng mới
Đằng sau mức tăng mạnh của nhập khẩu điện tử, máy móc và thiết bị trong nửa đầu năm 2026 không đơn thuần là sự gia tăng nhu cầu nguyên liệu. Diễn biến này phản ánh xu hướng doanh nghiệp chủ động đầu tư vào công nghệ, mở rộng năng lực sản xuất và chuẩn bị cho chu kỳ tăng trưởng mới khi kỳ vọng về đơn hàng và dòng vốn đầu tư tiếp tục cải thiện.

Thương mại Việt Nam - Singapore chuyển dịch lên phân khúc giá trị cao
Không chỉ tăng trưởng về quy mô, thương mại Việt Nam - Singapore trong nửa đầu năm 2026 đang cho thấy sự thay đổi về chất khi các nhóm hàng công nghệ, máy móc và thiết bị chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Xu hướng này phản ánh vai trò ngày càng sâu của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực, đồng thời mở ra dư địa mới cho xuất khẩu trong giai đoạn tới.









