
Theo thống kê, đến hết năm 2025, toàn tỉnh Ninh bÌnh có 829.731 hộ gia đình nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh, đạt 99,5% tổng số hộ. Trong đó, 619.922 hộ được sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung, chiếm 74,34%. Toàn tỉnh Ninh Bình hiện có 121 công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung có công suất từ 100 m³/ngày đêm trở lên thuộc diện phải xây dựng và thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn.
Những kết quả này cho thấy mức độ tiếp cận nước hợp vệ sinh ở khu vực nông thôn đã đạt tỷ lệ cao. Tuy nhiên, việc bảo đảm nguồn nước sạch ổn định, duy trì chất lượng theo quy chuẩn, giảm thất thoát và nâng cao hiệu quả vận hành công trình vẫn là những nhiệm vụ cần được quan tâm trong giai đoạn tới.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, Ninh Bình phấn đấu có 99,8% hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 95% được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn. Tỉnh Ninh Bình đặt mục tiêu giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch bình quân xuống dưới 15%; bảo đảm dịch vụ cấp nước liên tục, đủ áp lực 24 giờ mỗi ngày. Đồng thời, 100% công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung có công suất từ 100 m³/ngày đêm trở lên phải lập và thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn.
Để đạt các mục tiêu đề ra, tỉnh xác định bảo vệ nguồn nước và kiểm soát nguy cơ ô nhiễm là nhiệm vụ trọng tâm. Các cơ quan chức năng sẽ tăng cường quản lý việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước; kiểm tra, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các hành vi xả thải gây ô nhiễm, khai thác và sử dụng nguồn nước trái phép. Việc quan trắc, giám sát chất lượng nguồn nước cũng được chú trọng nhằm kịp thời phát hiện, kiểm soát các nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động cấp nước sinh hoạt.
Cùng với đó, các công trình cấp nước tập trung sẽ được rà soát, đánh giá để có phương án duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp phù hợp. Tỉnh Ninh Bình khuyến khích mở rộng mạng lưới đường ống tại những khu vực cấp nước chưa ổn định; xem xét chuyển giao các công trình hoạt động kém hiệu quả cho đơn vị đủ năng lực quản lý, khai thác, vận hành. Việc đánh giá nhu cầu sử dụng nước và khả năng đáp ứng của hệ thống cũng phải tính đến tác động của biến đổi khí hậu, bảo đảm nguồn cung lâu dài.
Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng nước. Các đơn vị cấp nước có trách nhiệm tự kiểm tra theo quy định; Sở Y tế Ninh Bình tổ chức kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất, đồng thời phối hợp xây dựng, hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Tỉnh Ninh Bình cũng định hướng ứng dụng công nghệ, thiết bị thông minh trong quản lý, vận hành công trình, góp phần phát hiện sớm và xử lý kịp thời các nguy cơ, sự cố.
Để kế hoạch được triển khai đồng bộ, UBND tỉnh Ninh Bình giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc xây dựng và thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn; cập nhật hiện trạng công trình, tổng hợp dữ liệu và báo cáo kết quả thực hiện. Sở Xây dựng phối hợp thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quản lý hoạt động cấp nước; Sở Y tế chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chất lượng nước; Sở Tài chính tham mưu bố trí kinh phí theo quy định và khả năng cân đối ngân sách.
UBND cấp xã có trách nhiệm tuyên truyền, hướng dẫn người dân thu, xử lý và trữ nước an toàn tại hộ gia đình; theo dõi chất lượng nước, kịp thời thông báo các khuyến cáo của cơ quan chức năng và hướng dẫn trám lấp giếng không còn sử dụng theo quy định. Các đơn vị cấp nước phải chủ động lập, thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn, bảo vệ khu vực thu nước và hệ thống cấp nước, công khai thông tin, đồng thời vận động người dân sử dụng nước tiết kiệm, an toàn.
Nguyễn Kiên























