Ninh Bình sắp xếp mạng lưới giáo dục công lập, giảm khoảng 57% đầu mối
Cô và trò Trường Tiểu học Trần Tế Xương Nam Định, tỉnh Ninh Bình (Ảnh: Vân Anh)

Tái cấu trúc theo quy mô dân cư, nhu cầu học tập

Theo phương án, việc sắp xếp không nhằm giảm đầu mối một cách cơ học mà tập trung tổ chức lại mạng lưới giáo dục dựa trên quy mô dân số, phân bố dân cư, điều kiện địa lý, nhu cầu học tập, cơ sở vật chất và đội ngũ.

Sau hợp nhất đơn vị hành chính cấp tỉnh, Ninh Bình có quy mô dân số, diện tích và mạng lưới trường học lớn, được hình thành từ ba hệ thống giáo dục với điều kiện kinh tế - xã hội và phương thức quản lý khác nhau. Vì vậy, giữa các địa bàn còn có sự chênh lệch về quy mô trường lớp, số học sinh, giáo viên và cơ sở vật chất.

Tại các khu vực đô thị, khu công nghiệp, số học sinh tăng nhanh gây áp lực về phòng học, diện tích trường và tổ chức dạy học hai buổi/ngày. Trong khi đó, một số địa bàn nông thôn vẫn có trường quy mô nhỏ, ít học sinh nhưng phải duy trì đầy đủ bộ máy quản lý, hành chính.

Hiện khoảng 99% phòng học trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã được kiên cố hóa và trên 96% trường mầm non, phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở một số nơi còn thiếu, chưa đồng bộ. Đây là cơ sở để tỉnh Ninh Bình rà soát, điều chỉnh mạng lưới, khắc phục tình trạng nơi thừa cơ sở vật chất nhưng ít học sinh, trong khi khu vực đông dân cư lại thiếu phòng học.

Mục tiêu đặt ra là giảm trên 50% đầu mối cơ sở giáo dục công lập so với thời điểm ngày 1/7/2025, dự kiến giảm khoảng 57% sau sắp xếp.

Các cơ sở giáo dục sau sắp xếp được tổ chức theo mô hình một trường chính, các phân hiệu và điểm trường, qua đó tinh gọn bộ máy nhưng vẫn duy trì cơ sở dạy học tại những địa bàn cần thiết. Trường chính thực hiện quản trị, điều hành thống nhất; phân hiệu, điểm trường tiếp tục tổ chức dạy học, hạn chế tối đa việc thay đổi địa điểm học tập của học sinh.

Việc sắp xếp ưu tiên các trường cùng cấp học có quy mô nhỏ, địa bàn liền kề hoặc gần nhau, có khả năng dùng chung đội ngũ, cơ sở vật chất và bộ máy quản lý. Các yếu tố về khoảng cách, giao thông, an toàn đưa đón học sinh, khả năng tổ chức bán trú, học hai buổi/ngày và hạ tầng số cũng được tính đến.

Phương án không sáp nhập trường mầm non với trường phổ thông; không sáp nhập trường phổ thông với trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên; không sắp xếp cơ sở giáo dục chuyên biệt với trường phổ thông đại trà.

Đối với bậc THPT, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên 92 trường thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, đồng thời tiếp tục rà soát nhu cầu mở thêm trường, điểm trường, đầu tư cơ sở vật chất và đội ngũ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, hướng tới mục tiêu phổ cập giáo dục THPT.

Đối với giáo dục thường xuyên, 23 trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên tiếp tục được giữ nguyên. Việc tổ chức, chuyển đổi mô hình sẽ được nghiên cứu sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có hướng dẫn cụ thể.

Đối với các trường mầm non, tiểu học, THCS thuộc UBND cấp xã, phương án định hướng mỗi xã, phường cơ bản có một trường mầm non, một trường tiểu học và một trường THCS.

Những địa bàn có quy mô dân số, số trẻ hoặc số học sinh lớn có thể bố trí từ 2 đến tối đa 3 trường ở mỗi cấp học theo các tiêu chí về số người học và số lớp.

Riêng phường Hoa Lư và phường Nam Định được bố trí 5 trường mầm non, 5 trường tiểu học và 5 trường THCS. Trường Trẻ em khuyết tật xã Giao Hưng không thuộc diện sắp xếp.

Đối với 33 trường liên cấp, phương án dự kiến tách cấp tiểu học và THCS để sáp nhập vào các trường cùng cấp trên địa bàn.

Các địa bàn dân cư thưa, khoảng cách xa, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn hoặc có quá nhiều phân hiệu, điểm trường có thể đề xuất phương án riêng để UBND tỉnh Ninh Bình xem xét.

Cô, trò Trường Tiểu học Yên Bình (Vũ Dương, Ninh Bình) trong ngày khai giảng năm học 2025 - 2026
Cô, trò Trường Tiểu học Yên Bình, Vũ Dương, tỉnh Ninh Bình trong ngày khai giảng năm học 2025 - 2026 (Ảnh: Vân Anh)

Cơ cấu lại đội ngũ, giảm đầu mối quản lý

Mỗi cơ sở giáo dục sau sắp xếp bố trí một hiệu trưởng; số lượng phó hiệu trưởng thực hiện theo quy định. Trước mắt, trường chính chưa bố trí phó hiệu trưởng riêng; căn cứ quy mô và yêu cầu quản trị, mỗi phân hiệu có thể bố trí một phó hiệu trưởng.

Việc lựa chọn cán bộ quản lý dựa trên tiêu chuẩn, năng lực quản trị, uy tín, kết quả công tác, khả năng đổi mới và chuyển đổi số. Tỉnh Ninh Bình không thực hiện việc mặc nhiên chuyển toàn bộ hiệu trưởng các trường cũ thành phó hiệu trưởng trường mới.

Đội ngũ giáo viên cơ bản được tiếp nhận, giữ ổn định và bố trí lại theo quy mô lớp học, nhu cầu thực tế. Giáo viên dôi dư sẽ được điều động, biệt phái, thuyên chuyển đến đơn vị thiếu giáo viên hoặc giải quyết chế độ, chính sách theo quy định.

Các vị trí kế toán, văn thư, thủ quỹ được tổ chức dùng chung cho toàn cơ sở giáo dục. Các vị trí thiết bị, thư viện, giáo vụ, tư vấn học sinh, hỗ trợ người khuyết tật, công nghệ thông tin, y tế trường học được bố trí căn cứ quy mô và điều kiện thực tế.

Việc bố trí, sắp xếp đội ngũ và thực hiện chính sách đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục phải hoàn thành trước 30/9/2026.

Theo lộ trình, trước 20/8/2026, các địa phương phải hoàn thành tổ chức lại cơ sở giáo dục, lựa chọn, bổ nhiệm hiệu trưởng và bố trí cán bộ quản lý chủ chốt để chuẩn bị năm học 2026-2027.

Kết quả thực hiện được báo cáo về Sở Giáo dục và Đào tạo, đồng thời gửi Sở Nội vụ trước 22/8/2026. Sở Giáo dục và Đào tạo tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh Ninh Bình và Bộ Giáo dục và Đào tạo trước 30/8/2026.

Chậm nhất 30/9/2026, hoàn thành việc bố trí cơ cấu, số lượng hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và nhân sự hỗ trợ giáo dục theo quy định.

Cùng với sắp xếp mạng lưới, tỉnh Ninh Bình yêu cầu gắn quy hoạch trường học với quy hoạch sử dụng đất, đầu tư cơ sở vật chất và huy động nguồn lực. Các trường có quy mô lớn sau sắp xếp được ưu tiên xây dựng, cải tạo, sửa chữa, bổ sung phòng học và thiết bị dạy học.

Nguồn lực đầu tư được huy động từ ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh, ngân sách cấp xã và các nguồn xã hội hóa. Tỉnh cũng định hướng sử dụng hiệu quả các trụ sở, cơ sở nhà đất dôi dư sau sắp xếp để phục vụ giáo dục.

Công tác kiểm kê, bàn giao, quản lý tài sản phải được thực hiện chặt chẽ, không để thất thoát, lãng phí. Các cơ sở nhà, đất dôi dư chỉ được xử lý sau khi đánh giá đầy đủ nhu cầu giáo dục lâu dài và có quyết định của cấp có thẩm quyền.

Theo phương án, việc sắp xếp dự kiến tác động đến hơn 9.000 cán bộ quản lý và nhân sự hỗ trợ giáo dục, gồm khoảng 827 hiệu trưởng, 2.000 phó hiệu trưởng, 3.800 tổ trưởng, tổ phó và khoảng 2.500 nhân sự hỗ trợ giáo dục.

Đây là lực lượng chịu tác động trực tiếp, do đó tỉnh Ninh Bình yêu cầu quá trình sắp xếp phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, đồng thời thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên.

Đối với học sinh, nguyên tắc xuyên suốt là không làm gián đoạn việc học tập, không làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục. Việc duy trì phân hiệu, điểm trường tại những địa bàn cần thiết nhằm bảo đảm an toàn và thuận lợi cho học sinh, nhất là khu vực xa trung tâm.

UBND tỉnh Ninh Bình giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì hướng dẫn, thẩm định, kiểm tra và tổng hợp kết quả; Sở Nội vụ hướng dẫn về tổ chức bộ máy, vị trí việc làm và chế độ, chính sách; Sở Tài chính tham mưu nguồn lực, ngân sách và xử lý tài sản. Các cơ quan liên quan phối hợp bảo đảm quỹ đất, quy hoạch và cơ sở vật chất phục vụ mạng lưới trường học.

UBND các xã, phường chịu trách nhiệm toàn diện về xây dựng và tổ chức thực hiện phương án thuộc thẩm quyền; bảo đảm chính xác số liệu, phương án nhân sự, quản lý tài sản và duy trì hoạt động dạy học. Đồng thời, các địa phương phải tăng cường tuyên truyền, đối thoại, lắng nghe tâm tư của cán bộ, giáo viên, phụ huynh và Nhân dân để tạo đồng thuận.

Việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập là nhiệm vụ có phạm vi tác động lớn, đòi hỏi triển khai đồng bộ, thận trọng và phù hợp thực tiễn. Qua đó, Ninh Bình hướng tới xây dựng hệ thống trường học tinh gọn về đầu mối, hợp lý về quy mô, khoa học về phân bố, hiện đại về quản trị, sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng cao chất lượng giáo dục và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.

Hằng Nga