
Đây được xem là cơ sở quan trọng giúp địa phương định hướng phân bổ nguồn lực đầu tư, triển khai hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, tập trung hỗ trợ những địa bàn còn nhiều khó khăn.
Theo kết quả tổng hợp, toàn tỉnh hiện có 826 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 39 xã nằm trong khu vực này cùng với 5 xã có thôn dân tộc thiểu số.
Đáng chú ý, có 345 thôn được xác định là đặc biệt khó khăn, chủ yếu tập trung ở khu vực miền núi, biên giới – nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hạ tầng còn hạn chế.
Xét theo mức độ phát triển, Quảng Trị có 1 xã khu vực I, 4 xã khu vực II và 34 xã khu vực III. Dù số xã vùng dân tộc thiểu số chiếm hơn 24% tổng số xã toàn tỉnh, với tỷ lệ dân số dân tộc thiểu số khoảng 6,83%, nhưng theo quy định hiện hành, Quảng Trị vẫn không được xếp vào nhóm tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Khu vực miền núi của tỉnh chiếm trên 61% diện tích tự nhiên, là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như Bru - Vân Kiều, Pa Kô, Chứt, Tà Ôi. Đây là địa bàn có tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp và du lịch sinh thái, song vẫn đối mặt với không ít thách thức do địa hình chia cắt, thiên tai phức tạp và hạ tầng chưa đồng bộ.
Trong quá trình rà soát, các địa phương đã chủ động thu thập dữ liệu, tổ chức thẩm định nhiều vòng nhằm đảm bảo tính chính xác và khách quan. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn phát sinh một số khó khăn như tiêu chí phân định chưa thật cụ thể, một số chỉ tiêu còn thiếu căn cứ pháp lý, tiến độ thực hiện giữa các địa phương chưa đồng đều.
Để đảm bảo việc triển khai chính sách trong giai đoạn tới đạt hiệu quả, UBND tỉnh Quảng Trị kiến nghị Bộ Dân tộc và Tôn giáo sớm ban hành danh sách chính thức các thôn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi; các thôn đặc biệt khó khăn cũng như phân loại xã theo khu vực I, II, III.
Đây sẽ là căn cứ quan trọng giúp địa phương chủ động trong công tác quản lý, điều hành và phân bổ nguồn lực phù hợp với điều kiện thực tế.
Lê Đình
























